Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Minh Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Nam
  2. Bà Lê Thị Xuân Lang

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trí Đức, ông Đinh Quốc Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 207/2024/TLST-HS ngày 15/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1843/2024/QĐXXST-HS ngày 08/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Lý Ngọc N; giới tính: Nữ; sinh ngày: 29/9/2002, tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú: đuòng V, phường T, quận S, thành phố H; chỗ ở: phòng A nhà số B, đường L, phường T, quận B, thành phố H; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lý Phi V1 và bà Trần Thị Tuyết H1; có chồng (Từ Gia K - bị cáo trong vụ án) và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị bắt, tạm giam từ ngày 07/02/2023; có mặt.

  2. Từ Gia K; (tên gọi khác: C); giới tính: Nam; sinh ngày: 19/4/2000, tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú: đường N, phường A, quận B, thành phố H; chỗ ở: phòng A nhà số B, đường L, phường T, quận B, thành phố H; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; con ông Từ Kiệt V2 và bà Bùi Thị Thanh T2; có vợ (Lý Ngọc N - bị cáo trong vụ án) và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị bắt, tạm giam từ ngày 07/02/2023; có mặt.

  3. Vương Hữu H; giới tính: Nam; sinh ngày: 23/5/2002, tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú: đường Ng, phường A, quận B, thành phố H; chỗ ở: Không có nơi ở nhất định; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vương Hữu V3 và bà Nguyễn Thị Kim C; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị bắt, tạm giam từ ngày 06/02/2023; có mặt

- Người bào chữa:

  1. Luật sư Cao Thị Kiều T - Văn phòng Luật sư KT, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, bào chữa cho bị cáo Lý Ngọc N; có mặt.
  2. Luật sư Nguyễn Thị Thùy D - Văn phòng Luật sư TT, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, bào chữa cho bị cáo Từ Gia K; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ ngày 06/02/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, tuần tra đến trước Tòa nhà AQ, đường T, phường B, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện Vương Hữu H ngồi trên xe mô tô biển số 59H2-093.29, có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra bắt quả tang Vương Hữu H cùng vật chứng gôm 01 túi nylon màu đen, bên trong có 1,6973 gam ma túy, loại Ketamine. Vương Hữu H khai ma túy của Lý Ngọc N đưa cho Vương Hữu H đi giao cho người mua, để nhận tiền công.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý Ngọc N, thu giữ 01 hộp giấy bên trong có 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu xanh, là ma túy, khối lượng 12,2997 gam, loại MDMA; 01 hộp giấy bên trong có 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu hồng, là ma túy, khối lượng 21,6078 gam, loại MDMA; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy, khối lượng 52,7084 gam, loại Ketamine. Khi khám xét nhà còn có Từ Gia K là chồng của Lý Ngọc N, Lý Ngọc N và Từ Gia K khai ma túy là của T1 (không rõ lai lịch) đưa cho Lý Ngọc N và Từ Gia K, cất giấu để bán.

Vật chứng là ma túy thu giữ của Lý Ngọc N, Từ Gia K và Vương Hữu H đã được giám định tại các Kết luận giám định số 1238/KL-KTHS và số 1240/KL-KTHS ngày 13/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả điều tra xác định: Tháng 9/2022, Lý Ngọc N và Từ Gia K thuê phòng A nhà số B, đường L, phường T, quận B, thành phố H để ở. Đến đầu tháng 11/2022, Lý Ngọc N và Từ Gia K giúp T1 (không rõ lai lịch) mua bán ma túy nhiều lần, để nhận tiền công. Cuối tháng 12/2022, T1 yêu cầu Lý Ngọc N và Từ Gia K thuê thêm người để đi giao ma túy, nên Từ Gia K giới thiệu Vương Hữu H cho T1. T1 giao ma túy cho Lý Ngọc N và Từ Gia K cất giữ, khi có người mua thì T1 liên lạc qua Facebook Messenger cho Lý Ngọc N và Từ Gia K biết, để phân chia ma túy, rồi Từ Gia K và Vương Hữu H thay nhau, nhiều lần đi giao ma túy cho người mua theo yêu cầu của T1. T1 trả công 200.000 đồng/lần đi giao ma túy cho người mua. Tiền bán ma túy do Lý Ngọc N giữ, khi T1 yêu cầu thì Lý Ngọc N dùng tài khoản 19036080385019 tên Lý Ngọc N tại Ngân hàng Techcombank chuyển tiền vào tài khoản 6867999999 tên Đỗ Trần Quốc T1 tại Ngân hàng Vietcombank cho T1. Người mua ma túy tự liên lạc với T1 để thỏa thuận giá, loại ma túy, khối lượng ma túy. T1, Lý Ngọc N, Từ Gia K và Vương Hữu H liên lạc với nhau bằng ứng dụng Facebook Messenger (Lý Ngọc N sử dụng tài khoản tên “Ngọc N”, Vương Hữu H sử dụng tài khoản tên “Huong H”, Từ Gia K sử dụng tài khoản tên “Gia K”, T1 sử dụng tài khoản tên “Quoc T1”). Ngày 06/02/2023, Lý Ngọc N đưa ma túy cho Vương Hữu H đi giao cho người mua và lấy 2.200.000 đồng (trong đó 2.000.000 đồng là tiền bán ma túy, 200.000 đồng là tiền công của Vương Hữu H) thì bị phát hiện bắt quả tang như trên; số ma túy cất giấu tại phòng A nhà số B, đường L, phường T, quận B, thành phố H là của T1 đưa cho Lý Ngọc N và Từ Gia K cất giấu để bán cho người mua vào ngày 04/02/2023, nhưng chưa bán hết thì bị phát hiện, thu giữ vào ngày 07/02/2023.

Tại bản Cáo trạng số 174/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 13/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lý Ngọc N, Từ Gia K, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Vương Hữu H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lý Ngọc N từ 16 năm tù đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Phạt bổ sung bị cáo Lý Ngọc N 20.000.000 đồng;

- Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Từ Gia K từ 17 năm tù đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Phạt bổ sung bị cáo Từ Gia K 20.000.000 đồng;

- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vương Hữu H từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Phạt bổ sung bị cáo Vương Hữu H 5.000.000 đồng;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị thu giữ còn lại sau giám định; đối với các tang vật liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với tang vật còn lại đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lý Ngọc N trình bày: Luật sư thống nhất với quan điểm truy tố, điều khoản truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Lý Ngọc N là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đồng ý với quan điểm đánh giá của Viện kiểm sát về hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tất cả số lượng ma túy là của đối tượng tên T1, bị cáo chỉ làm theo chỉ đạo của T1 và chỉ hưởng tiền công 200.000 đồng/1 lần bán ma túy; số tiền 20.000.000 đồng như Cáo trạng ghi nhận là ngoài tiền công còn khoản tiền T1 cho thêm. Đề nghị xem xét lại khối lượng ma túy truy tố đối với bị cáo, khối lượng ma túy được ngăn chặn kịp thời, chưa phát tán ra ngoài xã hội. Bị cáo và chồng cùng là bị cáo trong vụ án, bị cáo có con nhỏ, bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo Lý Ngọc N mức án thấp hơn mức hình phạt đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo sớm trở về làm lại cuộc đời, xem xét giảm mức phạt bổ sung cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Từ Gia K trình bày: Luật sư đồng ý với Cáo trạng truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình khó khăn của bị cáo, vợ bị cáo cũng là bị cáo trong vụ án. Đề nghị Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử xem xét về vai trò của bị cáo Từ Gia K, Luật sư đồng ý về khối lượng ma túy phải chịu trách nhiệm của bị cáo Từ Gia K là bị cáo phải chịu trách nhiệm chung với bị cáo Lý Ngọc N, Luật sư chỉ đề nghị xem xét thêm về vai trò của bị cáo Từ Gia K cũng chỉ là phụ bị cáo Lý Ngọc N giao ma túy giúp cho T1, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Từ Gia K là quá cao. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt so với đề nghị của Viện kiểm sát.

Bị cáo Lý Ngọc N, bị cáo Từ Gia K đồng ý với quan điểm bào chữa của các Luật sư; các bị cáo Lý Ngọc N, Từ Gia K, Vương Hữu H không có ý kiến bào chữa và không tham gia tranh luận.

Kiểm sát viên đối đáp: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và khối lượng ma túy đã thu giữ trong vụ án, Viện kiểm sát nhận thấy mức hình phạt đối với bị cáo Từ Gia K, bị cáo Lý Ngọc N là phù hợp với tình chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và bảo lưu quan điểm luận tội đối với các bị cáo.

Các Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến đã trình bày trước phiên tòa, không tranh luận bổ sung.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lý Ngọc N, Từ Gia K và Vương Hữu H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Lý Ngọc N, Từ Gia K và Vương Hữu H đã khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, bản kết luận giám định. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 06/02/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận M, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang Vương Hữu H có nhận 1,6973 gam ma túy, loại Ketamine của Lý Ngọc N để đi giao cho người mua, nhận tiền công, nên đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vương Hữu H, cùng vật chứng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý Ngọc N thu giữ 33,9075 gam ma túy loại MDMA và 52,7084 gam ma túy loại Ketamine, tại thời điểm khám xét có Từ Gia K đang ở trong nhà. Lý Ngọc N và Từ Gia K khai ma túy là của T1 (không rõ lai lịch) đưa cất giấu để bán. Ngoài ra, từ đầu tháng 11/2022, Lý Ngọc N và Từ Gia K giúp T1 mua bán ma túy nhiều lần, để nhận tiền công 200.000 đồng/1 lần đi giao ma túy và từ cuối tháng 12/2022 theo chỉ đạo của T1, Lý Ngọc N và Từ Gia K thuê thêm Vương Hữu H để đi giao ma túy cho người mua nhiều lần.

[3] Hành vi của các bị cáo Lý Ngọc N và Từ Gia K là đặc biệt nghiệm trọng; hành vi của bị cáo Vương Hữu H là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, gieo rắc tệ nạn ma túy, ảnh hưởng đến hoạt động phòng, chống tội phạm về ma túy và đây cũng là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác, tội phạm khác. Do đó, cần xử lý nghiêm minh các bị cáo để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo Lý Ngọc N và Từ Gia K phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với khối lượng ma túy gồm 33,9075 gam, loại MDMA và 52,7084 gam, loại Ketamine, thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Vương Hữu H chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với khối lượng ma túy 1,6973 gam, loại Ketamine, thuộc trường hợp “phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Lý Ngọc N, Từ Gia K và Vương Hữu H về tội danh và điều luật như đã phân tích là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lý Ngọc N và Từ Gia K phạm tội phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lý Ngọc N, Từ Gia K và Vương Hữu H đều thành khẩn khai báo, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy hưởng lợi, cần thiết áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách nhà nước. Xét các bị cáo có hoàn cảnh có khó khăn như đã nêu nên giảm mức phạt tiền bổ sung so với đề nghị của Viện kiểm sát.

Trong vụ án, các bị cáo Lý Ngọc N, Từ Gia K và Vương Hữu H phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm nên áp dụng Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Về số tiền thu lợi bất chính: Do chỉ có lời khai duy nhất của các bị cáo, ngoài ra không có tài liệu chứng cứ nào khác thể hiện số tiền thu lợi bất chính các bị cáo thụ hưởng nên không buộc các bị cáo nộp lại để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Từ các phân tích nêu trên, là quan điểm của Hội đồng xét xử xét đối với các ý kiến tranh luận, đối đáp của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo và của Kiểm sát viên.

[5] Xử lý vật chứng:

  • Đối với: 01 gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ 258/23, có chữ ký của Phạm Huỳnh Minh Trí và Mai Thị Lệ Quyên, bên trong là ma túy còn lại sau giám định và 01 cuộn nylon đựng 01 gói nylon; 01 gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ 260/23 (Gói 1), có chữ ký của Phạm Huỳnh Minh Trí và Lê Anh Kế, bên trong là ma túy còn lại sau giám định và 01 gói nylon; 01 gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ 260/23 (Gói 2), có chữ ký của Phạm Huỳnh Minh Trí và Lê Anh Kế, bên trong là ma túy còn lại sau giám định và 02 gói nylon; 01 túi nylon màu đen; 01 khẩu trang y tế; 02 hộp giấy; một số gói nylon chưa sử dụng, 01 cuốn vở. Xét đây là vật cấm lưu hành, có liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
  • Đối với: 01 cân điện tử; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số 0792.177.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số 0708.899.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, gắn sim số 0786414657, thu giữ của các bị cáo Lý Ngọc N, Từ Gia K và Vương Hữu H; xét đây là vật chứng các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước;
  • Đối với xe mô tô, hiệu Honda, biển số 59H2-093.29 do bà Nguyễn Thị Như T4 là chủ sở hữu, hiện không xác định được đang ở đâu. Vương Hữu H khai mượn xe của bạn tên S (không rõ lai lịch) và sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng thông tin tìm chủ sở hữu. Do chưa xác định được chủ sở hữu nên giao cho cơ quan Thi hành án dân sự tiếp tục đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm, nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước;
  • Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vương Hữu H, là tiền riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi mua bán ma túy nên trả lại cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Lý Ngọc N 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo Lý Ngọc N 10.000.000 đồng.

  2. Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Từ Gia K 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo Từ Gia K 5.000.000 đồng.

  3. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Vương Hữu H 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo Vương Hữu H 5.000.000 đồng.

  4. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ 258/23, có chữ ký của Phạm Huỳnh Minh Trí và Mai Thị Lệ Quyên, bên trong là ma túy còn lại sau giám định và 01 cuộn nylon đựng 01 gói nylon; 01 gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ 260/23 (Gói 1), có chữ ký của Phạm Huỳnh Minh Trí và Lê Anh Kế, bên trong là ma túy còn lại sau giám định và 01 gói nylon; 01 gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ 260/23 (Gói 2), có chữ ký của Phạm Huỳnh Minh Trí và Lê Anh Kế, bên trong là ma túy còn lại sau giám định và 02 gói nylon; 01 túi nylon màu đen; 01 khẩu trang y tế; 02 hộp giấy; một số gói nylon chưa sử dụng, 01 cuốn vở;
    • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 cân điện tử; 01 máy điện thoại di động hiệu Iphone, Imei: 352844112096586, gắn sim số 0792.177.393 (...6586, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 máy điện thoại di động hiệu Vivo, Imei 1: 868613043251678, găn sim số 0786.414.657 (thực nhận 01 điện thoại Vivo màu xanh, bể nát màn hình, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 máy điện thoại di động hiệu Iphone, Imei: 355660523431577, gắn sim số 0708.899.444 (...1577, bẻ màn hình, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • - Trả lại cho bị cáo Vương Hữu H 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;
    • Giao Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn nêu trên, nếu không có ai đến nhận xe thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với: xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: Honda; số loại: Vario125; dung tích xi lanh: 124,88; biển số: 59H2-093.29; số khung: MH1JM5112MK797479; số máy: JM51E1796953 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra);

    (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/233 ngày 21/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền ngày 24/01/2024 vào tài khoản số 3949.0.9059775.00000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh mở tại Kho bạc Nhà nước Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.)

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Phòng PV06 - Công an TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (3)
  • - Trại giam; (1)
  • - Cục THA Dân sự TP.HCM; (1)
  • - THA Hình sự; (3)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (3)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (27) (9)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 177/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Ngọc N và đồng phạm, phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger