Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 177/2024/HS-ST

Ngày: 13/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
  2. Bà Nguyễn Thị Mai Hồng

– Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Thu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 858/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

  • - Họ và tên: LÊ VĂN K; - Giới tính: Nam;
  • - Tên gọi khác: không;
  • - Sinh năm: 1950; - Nơi sinh: Cần Thơ;
  • - Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...];
  • - Nơi thường trú: 28/72 Tổ A, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ;
  • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: không;
  • - Trình độ học vấn: không biết chữ; - Nghề nghiệp: không;
  • - Cha: Lê Văn N (chết);
  • - Mẹ: Nguyễn Thị T (chết);
  • - Em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1952, nhỏ nhất sinh năm 1966;
  • - Vợ: Nguyễn Thị Bé T1 (chết);
  • - Con ruột: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1980;
  • - Tiền án: 02. Ngày 16/7/2020 Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 105/2020/HSST. Ngày 17/01/2023 Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 08/2023/HSST, chấp hành xong ngày 20/01/2024.
  • - Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ ngày 29/6/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N. Có mặt.

Bị hại: Ông Trương Nguyên H, sinh năm 1995

Địa chỉ: ấp A xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Văn K là người có tiền án, khoảng 20 giờ ngày 27/6/2024 K điều khiển xe mô tô biển số 65B1-118.84 chở khách đến Bệnh viện Đ rồi mang đồ giúp khách lên lầu 7 của bệnh viện. Trong lúc đi qua hành lang của Khoa M tại lầu 7 Kiển nhìn thấy trong phòng số 725 có 01 điện thoại để cạnh 01 người nữ (mẹ của anh Trương Nguyên H) nằm ngủ dưới sàn. Kiển mở nhẹ cửa đi vào bên trong phòng 725 nhanh tay lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi rời khỏi phòng bệnh. Sau đó, K đi xung quanh bệnh viện tìm chỗ nghỉ.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Trương Nguyên H đi công việc quay lại phòng 725 phát hiện điện thoại bị mất nên báo với Lực lượng bảo vệ bệnh viện. Lực lượng bảo vệ kiểm tra Camera an ninh phát hiện Lê Văn K là đối tượng nghi vấn. Đến khoảng 03 giờ ngày 28/6/2024 lực lượng bảo vệ đi tuần tra xung quanh bệnh viện phát hiện Lê Văn K đang nằm ngủ tại tầng trệt gần thang máy Bệnh viện nên mời K và anh H làm rõ, đồng thời báo Công an phường C đến phối hợp xử lý.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu trắng đỏ đen biển số 65B1-118.84; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A55 màu xanh (do bị cáo K giao nộp).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 1422/KL-HĐĐG ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận N xác định: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A55 màu xanh, đã qua sử dụng có giá trị 2.100.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn K thừa nhận hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại của anh Trương Nguyên H như nêu trên.

Đối với 01 điện thoại Oppo A55 màu xanh là tài sản của anh Trương Nguyên H bị mất trộm. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trao trả cho anh H nhận xong.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển số 65B1-118.84 và 01 điện thoại Redmi màu đen là tài sản cá nhân bị cáo K, chuyển tòa xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: anh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Quá trình điều tra, bị cáo K thành khẩn khai báo; phạm tội khi bị cáo đã hơn 70 tuổi; Về nhân thân: bị cáo có 02 tiền án, chưa xóa án tích.

Tại Bản Cáo trạng số 188/CT-VKSNK ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Lê Văn K thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến bào chữa; xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Văn K về tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo là người trên 70 tuổi và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Do đó, đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm o, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển số 65B1-118.84 và 01 điện thoại Redmi màu đen là tài sản cá nhân bị cáo không liên quan đến vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: cơ quan điều tra đã giao trả lại điện thoại Oppo A55 màu xanh cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Căn cứ vào tình tiết vụ án, xét thấy: Vào ngày 27/6/2024 bị cáo Lê Văn K đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động Oppo A55 màu xanh của anh Trương Nguyên H. Theo Kết luận định giá tài sản số 1422/KL-HĐĐG ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận N xác định: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A55 màu xanh, đã qua sử dụng có giá trị 2.100.000đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được Luật hình sự bảo vệ và xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích nhưng tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.

[3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tuy nhiên tình tiết này đã được định khung hình phạt nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, hối hận về hành vi phạm tội của mình và bị cáo là người trên 70 tuổi nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo là người trưởng thành nhận thức được hành vi lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích nhưng vẫn cố ý thực hiện từ đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém nên cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc và phù hợp với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục giúp bị cáo thay đổi nhận thức biết đặt mình trong khuôn khổ pháp luật; đồng thời Hội đồng xét xử cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cân nhắc lượng hình cho bị cáo. Vì vậy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp và có cơ sở chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển số 65B1-118.84 và 01 điện thoại Redmi màu đen, đã qua sử dụng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận Cơ quan điều tra Công an quận N trả lại Oppo A55 màu xanh cho anh Trương Nguyên H.

[7] Về án phí: Bị cáo trên 60 tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm o, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2024.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển số 65B1-118.84 và 01 điện thoại Redmi màu đen, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận Cơ quan điều tra Công an quận N trả lại Oppo A55 màu xanh cho anh Trương Nguyên H.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Văn K được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật) lên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - VKSND Q.Ninh Kiều;
  • - VKSND Tp. Cần Thơ;
  • - CQCSĐT Công an Q.Ninh Kiều;
  • - Nhà tạm giữ Công an Q.Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS Q.Ninh Kiều
  • ;- Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Lê Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 177/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO LÊ VĂN KIỂN PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger