Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 177/2024/HS-ST

Ngày 12-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Minh Hoàng và Trần Công.
  • Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Việt T-Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn T1

Bùi Văn T1, sinh năm 1995, tại tỉnh Đắk Nông. Nơi thường trú và cư trú: thôn N, xã N'Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T2 (chết) và bà Hoàng Thị H; có vợ (đã ly hôn), chưa có con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 18/01/2017, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm phạt 02 năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 29/7/2018; về phần các quyết định khác thì Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú trả lời bằng văn bản là “chưa nhận được bản án sơ thẩm và phúc thẩm nên việc thực hiện ban hành quyết định thi hành án đối với đương sự chưa thực hiện”, coi như án tích đã được xóa); bị cáo tại ngoại “có mặt”.

*Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1969. Nơi thường trú: nhà số A, đường Á, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà không số, Đường Số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  2. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1957. Nơi thường trú: nhà số B, Đường Số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà số H, Đường Số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  3. Chị Đinh Thị Thu T4, sinh năm 1985. Nơi thường trú: nhà số A, Đường Số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà số I, Đường Số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  4. Chị Phạm Thị Minh T5, sinh năm 1983. Nơi thường trú: Khu C, xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: nhà số G, đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  5. Chị Nguyễn Thị Trọng H1, sinh năm 1960. Nơi thường trú: nhà số D, đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà số A, Đường Số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  6. Chị Hồ Thị D, sinh năm 1982. Nơi thường trú: nhà số C, đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà số A, Đường S, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  7. Chị Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1968. Nơi thường trú: nhà số H, đường M, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà không số đối diện nhà số A, đường G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  8. Chị Phan Thị Ngọc L1, sinh năm 1964. Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: nhà số C, đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  9. Chị Phạm Thúy D1, sinh năm 1968. Nơi thường trú: nhà số A, Lô I, Chung cư N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà số C, đường K, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  10. Chị Võ Thị Kim C, sinh năm 1974. Nơi thường trú và cư trú: nhà số A, đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  11. Anh Mai Xuân K, sinh năm 2000. Nơi thường trú và cư trú: nhà số A, đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 50 phút ngày 08/11/2023, Tổ công tác-Công an quận B tuần đến trước nhà số C, đường M, phường B, quận B thì nhìn thấy Bùi Văn T1 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra đã phát hiện và thu giữ từ trong túi áo khoác của T1 đang mặc có 02 sấp tờ rơi liên quan đến cho vay lãi nặng nên Tổ công tác đưa T1 về trụ sở làm việc rồi khám xét chỗ ở của T1. Trong quá trình làm việc, T1 đã khai có cho nhiều người vay tiền với mức lãi suất cao qua việc phát tờ rơi, nếu có người cần vay tiền liên lạc thì T1 trực tiếp đến gặp người đó để xem nơi ở, cách thức liên lạc, mức tiền vay rồi giao kết cho vay với hình thức trả góp theo ngày cả gốc và lãi trực tiếp bằng tiền mặt cho T1. Theo đó, T1 đã cho 11 người vay tiền, cụ thể gồm:

  1. Chị Nguyễn Thị T3 đã 10 lần vay tiền của T1 với mỗi lần từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, đã trả xong tiền nợ gốc và lãi đến lần thứ 9, riêng lần thứ 10 mới chỉ trả được 21 ngày với tổng số tiền vay của 10 lần là 54.000.000 đồng. Thời hạn trả của 01 lần vay là 24 ngày với mỗi ngày trả góp tiền gốc và lãi là 100.000 đồng (trong đó, tiền gốc 83.333 đồng, tiền lãi 16.667 đồng) đối với lần vay 2.000.000 đồng và 500.000 đồng (tiền gốc 416.667 đồng và 83.333 đồng) đối với dây 10.000.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 2.400.000 đồng của lần vay 2.000.000 đồng và 12.000.000 đồng của lần vay 10.000.000 đồng. Do số tiền lãi thực tế đã thu của 10 lần vay là 14.485.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 701.918 đồng (không thu phí hồ sơ) nên số tiền mà T1 đã thu lợi bất chính là 13.783.082 đồng theo mức lãi suất từ 25%-46%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 30/5/2023, chị T3 vay số tiền 2.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 100.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 83.333 đồng, tiền lãi là 16.667 đồng). Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 2.400.000 đồng, do tiền lãi đã thu là 400.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 26.301 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 373.699 đồng;
    • Lần 2: vào ngày 15/6/2023, chị T3 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 125.000 đồng, tiền lãi là 25.000 đồng). Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 560.548 đồng;
    • Lần 3: vào ngày 09/6/2023, chị T3 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 208.333 đồng, tiền lãi là 41.667 đồng). Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng, do tiền lãi đã thu là 1.000.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 65.753 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 934.247 đồng;
    • Lần 4: vào ngày 25/6/2023, chị T3 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 208.333 đồng, tiền lãi là 41.667 đồng). Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng, do tiền lãi đã thu là 1.000.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 65.753 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 934.247 đồng;
    • Lần 5: vào ngày 28/6/2023, chị T3 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 125.000 đồng, tiền lãi là 25.000 đồng). Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 560.548 đồng;
    • Lần 6: vào ngày 09/7/2023, chị T3 vay số tiền 7.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 400.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 291.667 đồng, tiền lãi là 108.333 đồng). Số tiền đã trả sau khi kết thúc dây nợ là 9.600.000 đồng, do tiền lãi đã thu là 2.600.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 92.055 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 2.507.945 đồng;
    • Lần 7: vào ngày 03/8/2023, chị T3 vay số tiền 7.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 400.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 291.667 đồng, tiền lãi là 108.333 đồng). Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 9.600.000 đồng, do tiền lãi đã thu là 2.600.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 92.055 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 2.507.945 đồng;
    • Lần 8: vào ngày 15/8/2023, chị T3 vay số tiền 7.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 400.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 291.667 đồng, tiền lãi là 108.333 đồng). Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 9.600.000 đồng, do tiền lãi đã thu là 2.600.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 92.055 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 2.507.945 đồng;
    • Lần 9: vào ngày 09/9/2023, chị T3 vay số tiền 10.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 500.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 416.667 đồng, tiền lãi là 83.333 đồng). Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 12.000.000 đồng, do tiền lãi đã thu là 2.000.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 131.507 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 1.868.493 đồng;
    • Lần 10: vào ngày 28/9/2023, chị T3 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày (không thu phí hồ sơ), mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 260.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 208.333 đồng, tiền lãi là 51.667 đồng). Số tiền mới chỉ trả được 21 ngày là 5.460.000 đồng; trong đó, tiền lãi là 1.085.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 57.534 đồng nên số tiền thu lợi bất chính là 1.027.466 đồng. Số tiền nợ gốc còn lại mà chị T3 chưa trả cho T1 là 624.999 đồng (03ngày x 208.333 đồng = 624.999 đồng).
  2. Anh Nguyễn Văn Q đã 03 lần vay tiền của T1 với mỗi lần 5.000.000 đồng, đã trả xong tiền nợ gốc và lãi đến lần thứ 2, riêng lần thứ 3 mới chỉ trả được được 18 ngày với tổng số tiền vay của 03 lần là 15.000.000 đồng. Thời hạn trả của 01 lần vay là 25 ngày vời mỗi ngày trả góp tiền gốc và lãi là 260.000 đồng (trong đó, tiền gốc 200.000 đồng, tiền lãi 60.000 đồng); số tiền đã trả sau khi kết thúc 01 lần nợ là 6.500.000 đồng. Do số tiền lãi thực tế đã thu của 03 lần vay là 4.080.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 186.301 đồng (không thu phí hồ sơ) nên số tiền thu lợi bất chính là 3.893.699 đồng (4.080.000 đồng-186.301 đồng=3.893.699 đồng) theo mức lãi suất 36%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 25/6/2023, anh Q vay của T1 số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 25 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 260.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 200.000 đồng, tiền lãi là 60.000 đồng); số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.500.000 đồng;
    • Lần 2: vào ngày 09/7/2023, anh Q vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 25 ngày, mỗi ngày đóng tiền gốc và lãi là 260.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 200.000 đồng, tiền lãi là 60.000 đồng); số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.500.000 đồng;
    • Lần 3: vào ngày 21/6/2023, anh Q vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 25 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 260.000 đồng (trong đó, tiền nợ gốc là 200.000 đồng, tiền lãi là 60.000 đồng). Anh Q mới chỉ trả được 18 ngày với số tiền là 4.680.000 đồng; trong đó, tiền nợ gốc là 3.600.000 đồng, tiền lãi là 1.080.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 68.493 đồng nên số tiền mà T1 đã tiền thu lợi bất chính là 1.011.507 đồng; riêng số tiền nợ gốc còn lại mà anh Q chưa trả cho T1 là 1.400.000 đồng (07ngày x 200.000 đồng = 1.400.000 đồng).
  3. Chị Đinh Thị Thu T4 đã 10 lần vay tiền của T1, trong đó: 05 lần đầu với mỗi lần 3.000.000 đồng, chị T4 đã trả xong nợ gốc và lãi đến hết lần thứ 4, riêng lần thứ 5 mới chỉ trả được 09 ngày; còn 05 lần sau với mỗi lần 5.000.000 đồng, chị T4 đã trả xong nợ gốc và lãi đến hết lần thứ 4, riêng lần thứ 5 (Lần 10 bên dưới) mới chỉ trả được 01 ngày. Tổng số tiền của 10 lần vây là 40.000.000 đồng với thời hạn trả của mỗi lần vay là 24 ngày; theo đó, 05 lần vay với mỗi lần 3.000.000 đồng thì mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng (trong đó, tiền gốc 125.000 đồng, tiền lãi 25.000 đồng); còn 05 lần vay với mỗi lần 5.000.000 đồng thì mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc 208.333 đồng, tiền lãi 41.667 đồng); riêng số tiền sau khi kết thúc nợ các lần vay lần lượt là 3.600.000 đồng và 6.000.000 đồng. Như vậy, do số tiền lãi thực tế đã thu của cả 10 lần vay là 6.666.667 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 438.356 đồng (không thu phí hồ sơ) nên T1 đã thu lợi bất chính là 6.228.311 đồng (6.666.667 đồng-438.356 đồng=6.228.311 đồng) theo mức lãi suất 25%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 24/8/2023, chị T4 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng;
    • Lần 2: vào ngày 17/9/2023, chị T4 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng;
    • Lần 3: vào ngày 01/10/2023, chị T4 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng;
    • Lần 4: vào ngày 16/10/2023, chị T4 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng;
    • Lần 5: vào ngày 31/10/2023, chị T4 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng (trong đó, tiền nợ gốc là 125.000 đồng, tiền lãi là 25.000 đồng). Chị T4 mới chỉ trả tiền được 08 ngày là 1.200.000 đồng, còn lại 16 ngày nợ gốc chưa trả cho T1 là 2.000.000 đồng (16 ngày x 125.000 đồng = 2.000.000 đồng);
    • Lần 6: vào ngày 10/9/2023, chị T4 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng;
    • Lần 7: vào ngày 25/9/2023, chị T4 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng;
    • Lần 8: vào ngày 10/10/2023, chị T4 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng;
    • Lần 9: vào ngày 24/10/2023, chị T4 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng;
    • Lần 10: vào ngày 07/11/2023, chị T4 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng (trong đó, tiền nợ gốc 208.333 đồng, tiền lãi 41.667 đồng). Do chị T4 mới chỉ trả được 01 ngày là 250.000 đồng nên còn lại nợ gốc của 23 ngày chưa trả cho T1 là 4.791.659 đồng (23 ngày x 208.333 đồng = 4.791.659 đồng).
  4. Chị Phạm Thị Minh T5 đã 04 lần vay tiền của T1 với mỗi lần 15.000.000 đồng, tổng cộng 60.000.000 đồng và đã trả xong nợ gốc, lãi cho cả 04 lần này. Thời hạn trả của mỗi lần vay là 24 ngày với mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 750.000 đồng (trong đó, tiền gốc 625.000 đồng, tiền lãi 125.000 đồng); số tiền đã trả sau khi kết thúc 01 lần vay là 18.000.000 đồng. Do tổng số tiền lãi thực tế đã thu của 04 lần vay là 12.000.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 789.041 đồng (không thu phí hồ sơ) nên tổng số tiền đã thu lợi bất chính là 11.210.959 đồng (12.000.000 đồng – 789.041 đồng = 11.210.959 đồng) theo mức lãi suất 25%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 24/8/2023, chị T5 vay số tiền 15.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày; mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 750.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 18.000.000 đồng.
    • Lần 2: vào ngày 8/9/2023, chị T5 vay số tiền 15.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 750.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 18.000.000 đồng.
    • Lần 3: vào ngày 26/9/2023, chị T5 vay số tiền 15.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 750.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 18.000.000 đồng.
    • Lần 4: vào ngày 15/10/2023, chị T5 vay số tiền 15.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 750.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 18.000.000 đồng.
  5. Người vay Nguyễn Thị Trọng H1 đã 06 lần vay tiền của T1, trong đó: 04 lần đầu với mỗi lần 5.000.000 đồng, còn 02 lần sau với mỗi lần 3.000.000 đồng và đã trả xong tiền gốc, lãi cho cả 06 lần vay. Tổng số tiền trong 06 lần vay là 26.000.000 đồng với thời hạn trả mỗi lần là 24 ngày; trong đó: 04 lần vay đầu, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc 208.333 đồng, tiền lãi 41.667 đồng) với số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng; còn 02 lần vay sau, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng (trong đó, tiền gốc 125.000 đồng, tiền lãi 25.000 đồng) với số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng. Do tổng số tiền lãi thực tế đã thu của 06 lần vay là 5.200.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 341.918 đồng (không thu phí hồ sơ) nên tổng số tiền thu lợi bất chính là 4.858.082 đồng (5.200.000 đồng– 341.918 đồng = 4.858.082 đồng) theo mức lãi suất 25%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 31/8/2023, chị H1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi 250.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 2: vào ngày 19/9/2023, chị H1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi 250.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 3: vào ngày 03/10/2023, chị H1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi 250.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 4: vào ngày 15/10/2023, chị H1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi 250.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 5: vào ngày 27/9/2023, chị H1 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi 150.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng.
    • Lần 6: vào ngày 10/10/2023, chị H1 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi 150.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng.
  6. Chị Hồ Thị D đã 02 lần vay tiền của T1 với mỗi lần 5.000.000 đồng, trong đó: đã trả xong tiền nợ và lãi của lần thứ nhất, còn lần thứ 2 mới chỉ trả được 15 ngày. Tổng số tiền của 02 lần vay là 10.000.000 đồng với thời hạn trả cho mỗi lần vay 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc 208.333 đồng, tiền lãi 41.667 đồng); số tiền trả sau khi kết thúc mỗi lần vay là 6.000.000 đồng. Do số tiền lãi thực tế đã thu của 02 lần là 1.625.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 106.849 đồng (không thu phí hồ sơ) nên tổng số tiền đã thu lợi bất chính là 1.518.151 đồng (1.625.000 đồng – 106.849 đồng = 1.518.151 đồng) theo mức lãi suất 25%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 22/9/2023, chị D vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi 250.000 đồng; số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 2: vào ngày 06/5/2023, chị D vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc 208.333 đồng, lãi 41.667 đồng). Chị D mới chỉ trả nợ gốc và lãi được 15 ngày là 3.750.000 đồng, tiền nợ gốc của 09 ngày còn lại chưa trả cho T1 là 1.874.997 đồng (09 ngày x 208.333 đồng = 1.874.997 đồng.
  7. Chị Huỳnh Thị Kim L đã 02 lần vay tiền của T1 với mỗi lần 5.000.000 đồng, tổng cộng 10.000.000 đồng và đã trả xong nợ gốc, lãi cho cả 02 lần này. Thời hạn trả của mỗi lần vay là 24 ngày với mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc 208.333 đồng, tiền lãi 41.667 đồng); số tiền đã trả sau khi kết thúc mỗi lần vay là 6.000.000 đồng. Do tổng số tiền lãi thực tế đã thu của 02 lần vay là 2.000.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 131.507 đồng (không thu phí hồ sơ) nên tổng số tiền đã thu lợi bất chính là 1.868.493 đồng (2.000.000 đồng – 131.507 đồng = 1.868.493 đồng) theo mức lãi suất 25%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 09/9/2023, chị L vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng; tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 2: vào ngày 12/10/2023, chị L vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng; tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
  8. Chị Phan Thị Ngọc L1 đã 06 lần vay tiền của T1 với mỗi lần 5.000.000 đồng, tổng cộng 30.000.000 đồng. Thời hạn trả cho mỗi vay là 24 ngày với mỗi ngày trả tiền gốc và lãi 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc 208.333 đồng, tiền lãi 41.667 đồng); số tiền phải trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng. Do tổng số tiền lãi thực tế đã thu 5.625.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 369.863 đồng (không thu phí hồ sơ) nên số tiền đã thu lợi bất chính là 5.255.137 đồng (5.625.000 đồng – 369.863 đồng = 5.255.137 đồng) theo mức lãi suất 25%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 27/8/2023, chị L1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 2: vào ngày 09/9/2023, chị L1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 3: vào ngày 22/9/2023, chị L1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 4: vào ngày 02/10/2023, chị L1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 5: vào ngày 16/10/2023, chị L1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 6: vào ngày 29/10/2023, chị L1 vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày phải trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng. Nhưng do chị L1 mới chỉ trả nợ gốc và lãi được 15 ngày là 3.750.000 đồng nên số tiền nợ gốc còn lại của 09 ngày chưa trả cho T1 là 1.874.997 đồng (09 ngày x 208.333 đồng = 1.874.997 đồng).
  9. Chị Phạm Thúy D1 đã 02 lần vay tiền của T1; trong đó, do lần đầu 3.000.000 đồng, lần sau 4.000.000 đồng nên tổng số tiền của 02 lần vay là 7.000.000 đồng. Thời hạn mỗi lần vay là 24 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi cho lần đầu là 150.000 đồng (trong đó, tiền gốc 125.000 đồng, tiền lãi 25.000 đồng) nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; còn lần sau, do mỗi ngày phải trả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng (trong đó, tiền gốc 166.667 đồng, tiền lãi 33.333 đồng) nên số tiền phải trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng. Do số tổng tiền lãi thực tế đã thu là 1.233.333 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 81.096 đồng (không thu phí hồ sơ) nên số tiền đã thu lợi bất chính là 1.152.237 đồng (1.233.333 đồng – 81.096 đồng = 1.152.237 đồng) theo mức lãi suất 25%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 12/7/2023, chị D1 vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng.
    • Lần 2: vào ngày 24/7/2023, chị D1 vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, do mỗi ngày phải trả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng nên số tiền phải trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng. Nhưng do chị D1 chỉ trả nợ gốc và lãi được 19 ngày là 3.800.000 đồng nên nợ gốc còn lại của 05 ngày chưa trả cho T1 là 833.335 đồng (05 ngày x 166.667 đồng = 833.335 đồng).
  10. Chị Võ Thị Kim C đã 04 lần vay tiền của T1; trong đó, do lần đầu vay 5.000.000 đồng, còn 03 lần sau với mỗi lần vay là 7.000.000 đồng nên tổng số tiền của 04 vay là 26.000.000 đồng. Thời hạn mỗi lần vay là 25 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi cho lần đầu là 260.000 đồng (trong đó, tiền gốc 200.000 đồng, tiền lãi 60.000 đồng) nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.500.000 đồng; còn 03 lần sau, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi cho 01 lần vay là 364.000 đồng (trong đó, tiền gốc 280.000 đồng, tiền lãi 84.000 đồng) nên số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ của mỗi lần vay là 9.100.000 đồng. Do tổng số tiền lãi thực tế đã thu của 04 lần vay là 7.800.000 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 356.164 đồng (không thu phí hồ sơ) nên số tiền đã thu lợi bất chính là 7.443.836 đồng (7.800.000 đồng– 356.164 đồng = 7.443.836 đồng) theo mức lãi suất 36%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 26/6/2023, chị C vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 25 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 260.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.500.000 đồng.
    • Lần 2: vào ngày 10/7/2023, chị C vay số tiền 7.000.000 đồng với thời hạn 25 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 364.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 9.100.000 đồng.
    • Lần 3: vào ngày 25/7/2023, chị C vay số tiền 7.000.000 đồng với thời hạn 25 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 364.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 9.100.000 đồng.
    • Lần 4: vào ngày 10/8/2023, chị C vay số tiền 7.000.000 đồng với thời hạn 25 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 364.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 9.100.000 đồng.
  11. Anh Mai Xuân K đã 02 lần vay tiền của T1 với mỗi lần 5.000.000 đồng, trong đó: đã trả xong tiền nợ và lãi của lần đầu, còn lần sau mới chỉ trả được 01 ngày. Tổng số tiền của 02 lần vay là 10.000.000 đồng với thời hạn trả của mỗi lầy vay là 24 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc 208.333 đồng, tiền lãi 41.667 đồng); số tiền trả sau khi kết thúc nợ mỗi lần vay là 6.000.000 đồng. Do tổng số tiền lãi thực tế đã thu của 02 lần vay là 1.041.667 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 68.493 đồng (không thu phí hồ sơ) nên tổng số tiền đã thu lợi bất chính là 973.174 đồng (1.041.667 đồng – 68.493 đồng = 973.174 đồng) theo mức lãi suất 25%/tháng, cụ thể như sau:
    • Lần 1: vào ngày 19/10/2023, anh K vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, do mỗi ngày đã trả tiền gốc và lãi là 250.000 đồng nên tổng số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng.
    • Lần 2: Vào ngày 07/11/2023, anh K vay số tiền 5.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày; số tiền trả sau khi kết thúc nợ là 6.000.000 đồng, anh K mới chỉ trả tiền gốc và lãi được 01 ngày là 250.000 đồng (trong đó, tiền gốc 208.333 đồng, tiền lãi 41.667 đồng). Nhưng do anh K mới chỉ trả được 01 ngày nên số tiền nợ gốc của 23 ngày còn lại chưa trả cho T1 là 4.791.659 đồng (23 ngày x 208.333 đồng = 4.791.659 đồng).

Tại Cơ quan điều tra, T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Lời khai này hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh, chị Nguyễn Thị T3, Nguyễn Văn Q, Đinh Thị Thu T4, Phạm Thị Minh T5, Nguyễn Thị Trọng H1, Hồ Thị D, Huỳnh Thị Kim L, Phan Thị Ngọc L1, Phạm Thúy D1, Võ Thị Kim C và Mai Xuân K cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, đã đủ cở sở xác định: T1 cho 11 người này vay tiền với lãi suất dao động từ 25%/tháng đến 46%/tháng là vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng (5 x 1,666%= 8,33%), cụ thể là từ 16,67%/tháng đến 37,67%/tháng so với mức lãi suất phải trách nhiệm hình sự là 8,33%/tháng. Đồng thời qua đó cũng cho thấy: T1 đã cho 11 người trên vay với tổng số tiền là 288.000.000 đồng, do người vay mới chỉ trả nợ gốc được 269.808.354 đồng nên số còn lại chưa trả là 18.191.646 đồng; còn tiền lãi thực thu là 61.756.667 đồng được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 3.571.506 đồng nên tổng số tiền mà T1 đã thu lợi bất chính được 58.185.161 đồng. Còn đối với anh Nguyễn Xuân S, tuy lúc bị phát hiện có đi chung với T1, nhưng do không liên quan gì đến hành vi của bị cáo nên không bị xử lý. Riêng về vật chứng gồm: 01 cái điện thoại di động hiệu Iphone 6, 01 cái điện thoại di động hiệu Iphone 13, 01 chiếc xe môtô biển số 59H1-92235, 02 xấp tờ rơi, 01 cái áo khoác, 01 cái hộp đựng tờ rơi và 02 cuốn sổ tay của bị cáo được tiếp tục tạm giữ chờ xử lý sau. Đối với số tiền mà T1 đã thu lợi bất chính, các người vay có tên trên đều không ai yêu cầu T1 giao trả lại; đối với tiền nợ gốc mà người vay nào chưa trả xong cho T1 thì đều chấp nhận nộp lại để sung quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Văn T1 đã khai nhận: do thấy có nhiều người khác muốn vay tiền và chấp nhận trả lãi suất cao nên bị cáo nảy sinh ý định dùng tiền của bị cáo cho họ vay để có thu nhập cao hơn các việc làm khác và bắt thực hiện từ đầu tháng 5/2023. Qua việc phát tờ rơi, nếu có người cần vay tiền liên lạc thì bị cáo trực tiếp đến gặp người đó để xem nơi ở, cách thức liên lạc và mức tiền vay rồi giao kết vay với hình thức trả góp tiền nợ gốc và lãi theo ngày bằng tiền mặt trực tiếp cho bị cáo. Theo đó, bị cáo đã cho 11 người vay tiền gồm các anh, chị: Nguyễn Thị T3, Nguyễn Văn Q, Đinh Thị Thu T4, Phạm Thị Minh T5, Nguyễn Thị Trọng H1, Hồ Thị D, Huỳnh Thị Kim L, Phan Thị Ngọc L1, Phạm Thúy D1, Võ Thị Kim C và Mai Xuân K với tổng số tiền đã cho vay là 288.000.000 đồng; trong đó, do tổng số tiền nợ gốc đã được người vay trả 269.808.354 đồng nên số tiền nợ gốc còn lại chưa trả là 18.191.646 đồng; riêng tổng tiền lãi thực thu là 61.756.667 đồng nhưng do được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định là 3.571.506 đồng nên tổng số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính được 58.185.161 đồng thì bị Công an phát hiện. Do đó, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, không có ý kiến gì việc giải quyết số tiền dùng để cho vay, tiền lãi thực tế đã thu của 11 người vay, tiền người vay chưa trả hết cùng với các tài sản còn bị tạm giữ. Riêng đối với anh Nguyễn Xuân S, tuy lúc bị phát hiện có đi chung với bị cáo nhưng anh S không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại Cáo trạng số: 105/CT-VKS, ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bùi Văn T1 ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: bị cáo Bùi Văn T1 đã có hành vi dùng tiền của mình cho 11 người vay gồm các anh, chị: Nguyễn Thị T3, Nguyễn Văn Q, Đinh Thị Thu T4, Phạm Thị Minh T5, Nguyễn Thị Trọng H1, Hồ Thị D, Huỳnh Thị Kim L, Phan Thị Ngọc L1, Phạm Thúy D1, Võ Thị Kim C và Mai Xuân K với mức lãi suất dao động từ 25%/tháng đến 46%/tháng, đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng (5 lần x 1,666%/tháng = 8,33%) nên mức lãi suất mà bị cáo cho 11 người trên vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải chịu trách nhiệm hình sự là 8,33%/tháng; đồng thời, tổng số tiền bị cáo đã dùng cho vay là 288.000.000 đồng (các người vay mới chỉ trả được tổng số tiền 269.808.354 đồng, còn lại tổng số tiền chưa trả là 18.191.646 đồng); còn tiền lãi thực thu sau khi trừ đi lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là tiền thu lợi bất chính 58.185.161 đồng (riêng tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự thực là 3.571.506 đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; đồng thời, phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Về các biện pháp tư pháp, đề nghị: buộc bị cáo cùng các người vay nộp lại số tiền dùng vào việc cho vay đã được người vay trả và tiền các người vay chưa trả xong tương ứng với tổng số tiền 288.000.000 đồng; riêng bị cáo còn phải nộp lại số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự thực là 3.571.506 đồng để sung quỹ Nhà nước; còn số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 58.185.161 đồng thì do 11 người vay đều không ai yêu cầu bị cáo trả lại nên không có ý kiến. Về vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 cái điện thoại di động hiệu Iphone 6, 01 cái điện thoại di động hiệu Iphone 13 và 01 chiếc xe môtô biển số 59H1-92235; tịch thu tiêu hủy 02 xấp tờ rơi, 01 cái áo khoác, 01 cái hộp đựng tờ rơi và 02 cuốn sổ tay.

Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Bùi Văn T1 tại phiên tòa hôm nay cho thấy: trong thời gian từ đầu tháng 5/2023 đến ngày 08/11/2023, bị cáo đã có hành vi dùng tiền của bị cáo để thực hiện hành vi giao dịch cho 11 người vay có kỳ hạn trả từ 24 đến 25 ngày của 01 lần vay, người vay đã trả góp tiền nợ gốc và lãi mỗi ngày theo một mức cố định (tùy theo số tiền người vay và thời hạn trả) cho đến khi kết thúc nợ, cụ thể như sau: chị Nguyễn Thị T3, đã 10 lần vay với tổng số tiền 54.000.000 đồng (mới chỉ trả được 53.375.001 đồng, còn lại chưa trả 624.999 đồng), do tiền lãi suất thực thu 14.485.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 701.918 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 13.783.082 đồng; anh Nguyễn Văn Q, đã 03 lần vay với tổng số tiền 15.000.000 đồng (mới chỉ trả được 13.600.000 đồng, còn lại chưa trả 1.400.000 đồng), do tiền lãi suất thực thu 4.080.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 186.301 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 3.893.699 đồng; chị Đinh Thị Thu T4, đã 10 lần vay với tổng số tiền 40.000.000 đồng (mới chỉ trả được 33.208.341 đồng, còn lại chưa trả 6.791.659 đồng), do tiền lãi suất thực thu 6.666.667 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 438.356 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 6.228.311 đồng; chị Phạm Thị Minh T5, đã 04 lần vay với tổng số tiền 60.000.000 đồng (đã trả hết nợ), do tiền lãi suất thực thu 12.000.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 789.041 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 11.210.959 đồng; chị Nguyễn Thị Trọng H1, đã 06 lần vay với số tiền 26.000.000 đồng (đã trả hết nợ), do tiền lãi suất thực thu 5.200.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 341.918 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 4.858.082 đồng; chị Hồ Thị D, đã 02 lần vay với tổng số tiền 10.000.000 đồng (mới chỉ trả được 8.125.003 đồng, còn lại chưa trả 1.874.997 đồng), do tiền lãi suất thực thu 1.625.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 106.849 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 1.518.151 đồng; chị Huỳnh Thị Kim L, đã 02 lần vay với tổng số tiền 10.000.000 đồng (đã trả hết nợ), do tiền lãi suất thực thu 2.000.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 131.507 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 1.868.493 đồng; chị Phan Thị Ngọc L1, đã 06 lần vay với số tiền 30.000.000 đồng (mới chỉ trả được 28.125.003 đồng, còn lại chưa trả 1.874.997 đồng), do tiền lãi suất thực thu 5.625.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 369.863 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 5.255.137 đồng; chị Phạm Thúy D1, đã 02 lần vay với số tiền 7.000.000 đồng (mới chỉ trả được 6.166.665 đồng, còn lại chưa trả 833.335 đồng), do tiền lãi suất thực thu 1.233.333 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 81.096 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 1.152.237 đồng; chị Võ Thị Kim C, đã 04 lần vay với tổng số tiền 26.000.000 đồng (đã trả hết nợ), do tiền lãi suất thực thu 7.800.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 356.164 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 7.443.836 đồng; anh Mai Xuân K, đã 02 lần vay với số tiền 10.000.000 đồng (mới chỉ trả được 5.208.341 đồng, còn lại chưa trả 4.791.659 đồng), do tiền lãi suất thực thu 1.041.667 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 68.493 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 973.174 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo đã cho vay đối với 11 người có tên vừa nêu trên là 288.000.000 đồng; trong đó, do số tiền nợ gốc người vay mới chỉ trả được 269.808.354 đồng nên số còn lại chưa trả là 18.191.646 đồng; riêng tổng tiền lãi thực thu là 61.756.667 đồng nhưng do được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là 3.571.506 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 58.185.161 đồng.

[3] Xét như đã nêu trên thì bị cáo đã có hành vi cho 11 người vay tiền với mức lãi suất dao động từ 25% - 46%/tháng là vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự (do mức lãi suất cao nhất không được vượt quá 20%/năm nên quy ra tháng là 1,666%) mà cụ thể là 8,33%/tháng (5 lần x 1,666%/tháng = 8,33%/tháng); trong khi bị cáo cho vay tiền với mức lãi suất sau khi trừ đi mức lãi suất này thì còn lại là 16,67%/tháng (25% - 8,33% = 16,67%) nên so với mức lãi suất 8,33%/tháng là “gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự”, tương ứng với số tiền đã “thu lợi bất chính” là 58.185.161 đồng (không có các khoản thu trái pháp luật khác). Do đó, bị cáo Bùi Văn T1 đã phạm “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản nhận dạng...cùng với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với anh Nguyễn Xuân S, tuy lúc bị phát hiện có đi chung với bị nhưng do không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không bị xử lý là phù hợp.

[5] Xét hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về lĩnh vực tài chính tín dụng và ngân hàng M có thể là nguyên nhân dẫn đến các hành vi trái pháp luật khác. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thu lợi; riêng đối với trường hợp, tuy bị cáo đã có rất nhiều lần cho vay lãi nặng nhưng do số tiền thu lợi bất chính của mỗi lần đều dưới mức 30.000.000 đồng nên bị cáo không phải chịu tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 và mặc dù vậy cũng phải cần xử bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì, “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do đó, xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo có điều kiện kinh tế và thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thu lợi cao nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo một số tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước.

[7] Xét, do bị cáo phạm “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định “bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”; còn theo quy định tại khoản 3 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì, trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ “người bị kết án phải thực hiện hiện một số nghĩa vụ...và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước...” nên có thể bị áp dụng khấu trừ một phần thu nhập bị cáo. Nhưng do tại phần nhận định vừa nêu trên đã áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo nhằm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.

[8] Về các biện pháp tư pháp (“tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm”):

  • - Đối với số tiền 288.000.000 đồng mà bị cáo dùng để cho vay thì: tuy đây là công cụ phạm tội, nhưng do người vay mới trả cho bị cáo được 269.808.354 đồng, còn lại chưa trả là 18.191.646 đồng nên bị báo chỉ có nghĩa vụ nộp lại số tiền 269.808.354 đồng này để sung quỹ Nhà nước; riêng phần còn lại là số tiền 18.191.646 đồng, phải thuộc về nghĩa vụ của những vay tiền nộp lại để sung quỹ Nhà nước, cụ thể gồm các anh, chị: Nguyễn Thị T3 624.999 đồng, Nguyễn Văn Q 1.400.000 đồng, Đinh Thị Thu T4 6.791.659 đồng, Hồ Thị D 1.874.997 đồng, Phan Thị Ngọc L1 1.874.997 đồng, Phạm Thúy D1 833.335 đồng và Mai Xuân K 4.791.659 đồng.
  • - Đối với số tiền 3.571.506 đồng là tiền lãi thực thu của bị cáo tính theo mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự thì, do đây là số tiền bị cáo phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 58.185.161 đồng là tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính từ tiền lãi của các người vay đã trả, gồm anh, chị: Nguyễn Thị T3 13.783.082 đồng, Nguyễn Văn Q 3.893.699 đồng, Đinh Thị Thu T4 6.228.311 đồng, Phạm Thị Minh T5 11.210.959 đồng, Nguyễn Thị Trọng H1 4.858.082 đồng, Hồ Thị D 1.518.151 đồng, Huỳnh Thị Kim L 1.868.493 đồng, Phan Thị Ngọc L1 5.255.137 đồng, Phạm Thúy D1 1.152.237 đồng, Võ Thị Kim C 7.443.836 đồng và Mai Xuân K 973.174 đồng thì xét, do các anh, chị đều tự nguyện không yêu cầu bị các hoàn trả lại số tiền này nên cần ghi nhận.

[9] Về vật chứng: Đối với 01 cái điện thoại di động Iphone 6, màu trắng, có gắn sim số 0385452455 (đã qua sử dụng, vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi); 01 cái điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu vàng, có gắn sim số 0362433839 (đã qua sử dụng, vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi); 01 chiếc xe Honda Vario, biển số 59H1-92235 (đã qua sử dụng, vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi) của bị cáo dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tất cả để sung quỹ Nhà nước. Riêng 02 xấp tờ rơi (vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi), 01 áo khoác thun màu đỏ xám (đã qua sử dụng, vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi), 01 hộp đựng tờ rơi (vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi); 01 sổ tay màu xanh và 01 sổ tay màu hồng đều có kích thước 6x12cm (vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi) của bị cáo, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tất cả để tiêu hủy.

[10] Bị cáo Bùi Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
    • - Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • - Xử phạt bị cáo Bùi Văn T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện K, tỉnh Đắk Nông nhận được quyết định thi hành án.
    • Giao bị cáo Bùi Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã N’Đir, huyện K, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Nếu trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
    • Buộc bị cáo Bùi Văn T1 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của Chính quyền địa phương và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
    • Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Bùi Văn T1.
    • - Phạt bổ sung bị cáo Bùi Văn T1 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
  2. Về các biện pháp tư pháp (“tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm”): căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • - Buộc bị cáo Bùi Văn T1 nộp lại tổng số tiền 273.379.860 (hai trăm bảy mươi ba triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi) đồng để sung quỹ Nhà nước.
    • - Buộc các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp lại số tiền chưa trả xong tiền nợ gốc cho bị cáo Bùi Văn T1 để sung quỹ Nhà nước, gồm những anh, chị: Nguyễn Thị T3 624.999 (sáu trăm hai mươi bốn nghìn chín trăm chín mươi chín) đồng, Nguyễn Văn Q 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn) đồng, Đinh Thị Thu T4 6.791.659 (sáu triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi chín) đồng, Hồ Thị D 1.874.997 (một triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn chín trăm chín mươi bảy) đồng, Phan Thị Ngọc L1 1.874.997 (một triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn chín trăm chín mươi bảy) đồng, Phạm Thúy D1 833.335 (tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi lăm) đồng và Mai Xuân K 4.791.659 (bốn triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi chín) đồng.
    • Ghi nhận các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm những anh, chị: Nguyễn Thị T3, Nguyễn Văn Q, Đinh Thị Thu T4, Phạm Thị Minh T5, Nguyễn Thị Trọng H1, Hồ Thị D, Huỳnh Thị Kim L, Phan Thị Ngọc L1, Phạm Thúy D1, Võ Thị Kim C và Mai Xuân K đều tự nguyện không yêu cầu bị cáo Bùi Văn T1 hoàn trả lại số tiền thu lợi bất chính.
  3. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 cái điện thoại di động Iphone 6, màu trắng, có gắn sim số 0385452455 (đã qua sử dụng, vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi); 01 cái điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu vàng, có gắn sim số 0362433839 (đã qua sử dụng, vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi); 01 chiếc xe Honda Vario, biển số 59H1-92235 (đã qua sử dụng, vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi).
    • Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 xấp tờ rơi (vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi), 01 áo khoác thun màu đỏ xám (đã qua sử dụng, vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi), 01 hộp đựng tờ rơi (vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi); 01 sổ tay màu xanh và 01 sổ tay màu hồng đều có kích thước 6x12cm (vụ Bùi Văn T1 tội cho vay nặng lãi)
    • (Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK24/148TV, ngày 16/4/2024)
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Bùi Văn T1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Bị cáo Bùi Văn T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh, chị: Nguyễn Thị T3, Nguyễn Văn Q, Đinh Thị Thu T4, Phạm Thị Minh T5, Nguyễn Thị Trọng H1, Hồ Thị D, Huỳnh Thị Kim L, Phan Thị Ngọc L1, Phạm Thúy D1, Võ Thị Kim C và Mai Xuân K vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - VKSND Q.BT;
  • - CQĐT-CA Q.BT;
  • - Nhà tạm giữ-CA Q.BT;
  • - Chi cục THA DS Q.BT;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu hs, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 177/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger