Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 177/2024/HS-ST

Ngày: 12 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thiều Thị Phi Loan;
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 213/TB-TA ngày 25 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn N, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1986, tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký thường trú: Thôn E, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ở: E, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Đỗ Văn H, sinh năm: 1963 (còn sống); Họ tên mẹ: Trần Thị G, sinh năm: 1963 (còn sống); Gia đình có 03 (ba) anh em, bị cáo là con thứ nhất; Họ tên vợ: Mùi Thị H1, sinh năm: 1997 và có 02 con sinh năm 2017 và 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 12 tháng 4 năm 2013, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong bản án ngày 07 tháng 6 năm 2015.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07 tháng 11 năm 2023, sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (có mặt tại phiên tòa)

2. Ngô Văn T, tên gọi khác: Q; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1982, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Không; Nơi ở: Không có nơi ở nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 0/12; Họ tên cha: Ngô Tuấn L (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ngọc Á (đã chết); Gia đình có 02 (hai) anh em, bị cáo là con lớn nhất (em cùng cha khác mẹ); Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1984 (hiện không còn chung sống) và có 01 con sinh năm 2002;

Tiền án:

  • Ngày 13 tháng 8 năm 2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 2 Điều 138 và khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26 tháng 01 năm 2009, chưa đóng án phí, bồi thường dân sự và chưa nộp tiền thu lợi bất chính.
  • Ngày 26 tháng 01 năm 2011, bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04 tháng 11 năm 2013, chưa thực hiện nghĩa vụ đóng án phí.
  • Ngày 08 tháng 10 năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05 tháng 7 năm 2020, chưa đóng án phí.

Nhân thân:

  • Ngày 25 tháng 6 năm 2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, chấp hành xong bản án ngày 14 tháng 4 năm 2017.
  • Ngày 21 tháng 5 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 2015, chấp hành xong bản án ngày 26 tháng 3 năm 2020.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07 tháng 11 năm 2023, sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng S, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: E, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh X, sinh năm: 1970.

Địa chỉ: Số F, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Đỗ Văn N và Ngô Văn T là bạn bè và đều nghiện ma túy. N thuê trọ tại địa chỉ E, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quá trình sinh sống tại đây N phát hiện anh Nguyễn Hoàng S (sinh năm 1987) thường xuyên để xe mô tô tại sân của dãy trọ không có người trông coi nên N nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của anh S.

Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 06 tháng 11 năm 2023, N gặp T ở trước cổng Bệnh viện Đ, N rủ T đi trộm cắp tài sản, T đồng ý. N điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 68H7-3775 chở T đến dãy nhà trọ (nơi N đang thuê ở) để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, N chỉ cho T nơi để xe, T vào lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 11B1- 428.21 của anh S đẩy ra ngoài. Sau đó N điều khiển xe mô tô của mình đẩy T ngồi trên xe trộm được mang đi bán cho ông Nguyễn Thanh X với giá 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Khi mua thì ông X không biết xe do N và T trộm cắp mà có. Số tiền có được N và T chia nhau mỗi người 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiêu xài hết.

Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, anh S phát hiện việc bị mất xe nên đã đến Công an phường A trình báo. Công an phường lập hồ sơ xác minh, kiểm tra phát hiện N và T là người đã thực hiện hành vi phạm tội nên đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 11B1-428.21 của anh Nguyễn Hoàng S bị N và T trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho anh S.
  • 01 (một) áo mưa Nam mặc khi thực hiện hành vi phạm tội là đồ dùng cá nhân của N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho N.
  • 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 68H7-3775 Nam làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, hiện chưa làm rõ được nguồn gốc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ để tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 601/KL-HĐĐGTS ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B đã kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 11B1-428.21, trị giá 12.810.000đ (mười hai triệu tám trăm mười nghìn đồng).

- Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại anh Nguyễn Hoàng S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh X không yêu cầu hoàn trả số tiền đã mua xe.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 129/CT-VKSBH ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Đỗ Văn N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đỗ Văn N từ 12 (mười hai) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định;

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

3. Lời nói sau cùng:

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, mặc dù đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố đã cung cấp đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, biên bản lấy lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại khu vực sân dãy trọ địa chỉ E, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Đỗ Văn N và Ngô Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 11B1-428.21, trị giá 12.810.000đ (mười hai triệu tám trăm mười nghìn đồng) của anh Nguyễn Hoàng S. Ngày 07 tháng 11 năm 2023, N và T bị phát hiện bắt giữ, khởi tố để điều tra xử lý theo quy định.

- Về tội danh: Từ các căn cứ trên, xác định bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số: 129/CT-VKSBH ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Các Bị cáo có nhân thân xấu, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên dù biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái phép là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự xem thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về các vấn đề khác:

Quá trình điều tra, T khai nhận khi bán xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 11B1-428.21 cho ông Nguyễn Thanh X, T không nói cho ông X biết nguồn gốc xe, ông X khai không biết xe là do N và T trộm cắp mà có, đồng thời T có hứa với ông X sẽ đem giấy tờ xe đến sau nên không có căn cứ xử lý hình sự ông X về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[4] Về vật chứng:

  • 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 11B1-428.21 của anh Nguyễn Hoàng S bị N và T trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho anh S.
  • 01 (một) áo mưa Nam mặc khi thực hiện hành vi phạm tội là đồ dùng cá nhân của N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho N.
  • 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 68H7-3775 Nam làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, hiện chưa làm rõ được nguồn gốc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ để tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Nguyễn Hoàng S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh X không yêu cầu hoàn trả số tiền đã mua xe nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí:

Các bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:

- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp với quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

- Đối với phần trình bày của các bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 11 năm 2023.

2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 11 năm 2023.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Đỗ Văn N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Ngô Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS TP.Biên Hòa;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 177/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại khu vực sân dãy trọ địa chỉ E, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Đỗ Văn N và Ngô Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 11B1-428.21, trị giá 12.810.000đ (mười hai triệu tám trăm mười nghìn đồng) của anh Nguyễn Hoàng S. Ngày 07 tháng 11 năm 2023, N và T bị phát hiện bắt giữ, khởi tố để điều tra xử lý theo quy định.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger