|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 177/2024/HS-ST Ngày: 09/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Lan Chi
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Minh Hoa
- Bà Đỗ Hảo Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh – Thư ký Toà án nhân dân quận Cầu Giấy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Khánh Huyền– Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 184/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
PHẠM QUANG H1 - Sinh năm: 1991; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Địa chỉ ĐKHKTT và nơi ở: Số C, ngõ D đường N, phố N, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Phạm Quang H; Họ tên mẹ: Lê Thị D; D1 chỉ bản số 263 lập ngày 13/05/2024 tại Công an quận C, thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự: Bản án số 419/2023/HSST ngày 28/12/2023, TAND quận Đống Đa, TP Hà Nội xử phạt 04 tháng 10 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản (Ra trại ngày 29/01/2024) (Chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/05/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
Người bị hại:
- - Anh Trần Thế A – Sinh năm 1991; HKTT: Xóm C, xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt tại phiên toà).
- - Chị Lê Thị T – Sinh năm 2003; HKTT: Tổ dân phố L, H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: Số B M, M, quận N, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên toà).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị D – Sinh năm 1966; Địa chỉ HKTT: Số C ngõ D đường N, phố N, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt tại phiên toà).
Người làm chứng:
Anh Nguyễn Viết Duy A1 – Sinh năm 2003; HKTT và nơi ở: T, xã C, C, Quảng Ninh. (Vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quang H1 vừa ra trại, không có việc làm ổn định, cần tiền chi tiêu cá nhân nên nảy sinh ý định về Hà Nội đến các cửa hàng bán điện thoại để trộm cắp bằng hình thức hỏi mua điện thoại và sau đó lợi dụng sơ hở của nhân viên bán hàng thì lấy trộm điện thoại mang đi bán lấy tiền. Trong ngày 04/5/2024 và ngày 05/5/2024, Phạm Quang H1 đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình và phường D, quận C, thành phố Hà Nội, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 04/5/2024, H1 mặc áo dài tay kẻ ô màu xanh, quần dài tối màu, đi dép màu đen trắng, đội mũ bảo hiểm thời trang màu đen trắng, một mình điều khiển xe máy Honda Lead BKS: 30M4 - 3028 đến cửa hàng điện thoại IMIN, địa chỉ: Số A, đường T, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, chủ cửa hàng là anh Trần Thế A (Sinh năm: 1991, HKTT: xóm C, huyện K, tỉnh Ninh Bình) mục đích tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi vào cửa hàng, H1 gặp anh Lại Thành L (sinh năm: 2000, HKTT: thị trấn Y, Y, Ninh Bình) là nhân viên bán hàng và 01 khách hàng nữ (không rõ nhân thân lai lịch) đến dán kính cường lực. H1 giả vờ hỏi anh L mua 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax. Anh L lấy ra 03 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax bản 128GB trong đó có 02 chiếc màu đen và 01 chiếc màu xanh đặt lên bàn để tư vấn cho H1 và báo giá chiếc màu đen là 12.550.000 đồng. Sau đó, anh L tiếp tục dán kính cường lực cho khách nữ. Lợi dụng lúc anh L không để ý, H1 dùng tay trái lấy 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, bản 128Gb bỏ vào túi quần trước bên trái. Khi anh L quay ra tư vấn bán hàng, H1 liên tục mặc cả giá để anh L không phát hiện việc bị mất chiếc điện thoại rồi H1 đi ra khỏi cửa hàng. Sau đó, H1 đến cửa hàng điện thoại số D đường T, phố K, phường N, TP N của anh Kiều Bá T1 (sinh năm: 1992, HKTT: 408 đường T, phố K, phường N, Tp N) bán chiếc điện thoại vừa trộm cắp được với giá 10.200.000 đồng. Số tiền bán được, H1 đã tiêu xài cá nhân hết và sau đó bắt xe lên Hà Nội.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT- Công an T4 đã thu giữ của bà Lê Thị D (Sinh năm: 1966, HKTT: phố N, phường N, TP N) là mẹ của H1: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead BKS: 30M4-3028, số khung: 004859, số máy: 0307276; 01 quần dài tối màu, 01 áo dài tay kẻ ô màu xanh là chiếc xe và quần áo Phạm Quang H1 sử dụng khi đi trộm cắp tài sản; thu giữ của anh Kiều Bá T1: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen 128GB, số imei 1: 354440898590781, số imei 2: 3544408988622198.
Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Promax 128GB màu đen, số imei 1: 354440898590781, số imei 2: 3544408988622198 (điện thoại đã qua sử dụng) trị giá là 11.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ 20 ngày 05/5/2024, H1 một mình đi bộ đến cửa hàng Đ (địa chỉ: Số A X, phường D, Cầu G, Hà Nội) của anh Đặng Minh T2 (sinh năm 2000, HKTT: Nga L, N, Thanh Hóa), mục đích tìm kiếm sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến nơi, H1 gặp chị Lê Thị T (sinh năm: 2003, HKTT: TDP L, H, thị xã N, Thanh Hóa) và chị Nguyễn Như Q (sinh năm: 2003, HKTT: T, TP T, tỉnh Thanh Hóa) là nhân viên bán hàng. H1 nói chuyện với chị T hỏi mua một chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax bản 128Gb. Chị T đưa cho H1 một chiếc điện thoại Iphone 14 Promax bản 128Gb màu tím đã qua sử dụng và giới thiệu loại này còn đủ các màu. H1 nói với chị T lấy cho H1 xem 2 loại màu trắng và đen. Chị T, chị Q đồng ý, cả hai cùng đứng lên đi vào trong kho cửa hàng để lấy điện thoại. Thấy chị T, chị Q đi khuất vào trong kho, không để ý, H1 cầm chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím cất vào trong túi quần phía sau bên trái, đi khỏi cửa hàng và đi bộ về phía ngõ C phố T. Ngay lúc đó, chị T từ kho đi ra, không thấy H1 cùng chiếc điện thoại đã đưa cho H1 xem đâu. Chị T chạy ra cửa, nhìn thấy H1 đang đi bộ sang đường hướng về phía đường T nên hô “Cướp, cướp…..”. Thấy vậy, anh Nguyễn Viết Duy A1 (sinh năm: 2003, HKTT: T, xã C, C, Quảng Ninh) cùng là nhân viên của cửa hàng One P chạy ra và đuổi theo. Đến trước số B hẻm A ngách A ngõ C phố T thì H1 bị anh Nguyễn Viết Duy A1 và Công an phường D đang tuần tra bắt giữ. Công an phường D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trên người H1: 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax nêu trên và đưa về trụ sở.
Kết luận định giá tài sản số 177/KL-HĐĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, bản 128GB đã qua sử dụng trị giá là 22.990.000 đồng.
Tại Cơ quan Công an, Phạm Quang H1 đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân như nội dung nêu trên. Lời khai của Phạm Quang H1 phù hợp với lời khai các bị hại, lời khai của người liên quan, người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật, biên bản dẫn giải, biên bản kiểm tra camera và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ.
Tổng trị giá tài sản H1 chiếm đoạt của các bị hại là 34.490.000 đồng.
Quá trình điều tra, chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead BKS: 30M4-3028, số khung: 004859, số máy: 0307276, tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng, chiếc xe thuộc sở hữu của bà Lê Thị D - là mẹ của H1. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Quang H1. Ngày 26/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an T4 đã trao trả chiếc xe trên cho bà D.
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, bản 128GB, tài sản đã thu hồi và được trao trả lại cho anh Trần Thế A. Ngoài ra, bà Lê Thị D đã khắc phục số tiền mua chiếc điện thoại là 10.200.000 đồng bồi thường cho anh Kiều Bá T1, việc anh T1 mua lại chiếc điện thoại không biết là tài sản do H1 trộm cắp được nên không xem xét xử lý. Ngoài ra, anh Trần Thế A, anh Kiều Bá T1 không có yêu cầu gì về dân sự.
Đối với 01 điện thoại Iphone 14 Promax 128GB màu tím là tài sản của cửa hàng OnePhone, Cơ quan Công an quận C đã trả lại tài sản cho đại diện cửa hàng là chị Lê Thị T. Chị T không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 179/CT-VKSCG ngày 19/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã truy tố Phạm Quang H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận khoảng 20 giờ 45 phút ngày 04/5/2024, Phạm Quang H1 đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, bản 128GB có trị giá 11.500.000 đồng tại cửa hàng điện thoại IMIN địa chỉ số A đường T, phố P, đường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo cũng thừa nhận khoảng 14 giờ 20 phút ngày 05/5/2024, Phạm Quang H1 đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại 14 Promax 128GB màu tím có trị giá 22.990.000 đồng tại cửa hàng Đ1 địa chỉ số A X, phường D, Cầu G, Hà Nội. Tổng trị giá tài sản H1 chiếm đoạt của các bị hại là 34.490.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị D giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trong quá trình điều tra, bà là mẹ đẻ của Phạm Quang H1, bà D xác định đã tự nguyện thay bị cáo H1 bồi thường số tiền 10.200.000 đồng cho anh Kiều Bá T1, do anh T1 không biết nên đã mua lại chiếc điện thoại do bị cáo trộm cắp và bán lại cho anh T1, bà D tự nguyện cho H1 số tiền này để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của H1 gây ra, bà D không yêu cầu H1 phải trả lại bà số tiền này, không có yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa, Bà D giao nộp một số giấy tờ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo có cơ hội sửa chữa, làm lại cuộc đời.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Cầu Giấy giữ quan điểm truy tố với Phạm Quang H1 như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng; Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 26 đến 32 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 quần dài tối màu, 01 áo dài tay kẻ ô màu xanh là quần áo Phạm Quang H1 sử dụng khi đi trộm cắp tài sản; Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên không xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo, vật chứng đã thu hồi trao trả cho người bị hại. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 15/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N, Kết luận định giá tài sản số 177/KL-HĐĐGTS ngày 06/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Quang H1 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 04/5/2024, Phạm Quang H1 đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, bản 128GB có trị giá 11.500.000 đồng tại cửa hàng điện thoại IMIN địa chỉ số A đường T, phố P, đường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Và khoảng 14 giờ 20 phút ngày 05/5/2024, Phạm Quang H1 đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại 14 Promax 128GB màu tím có trị giá 22.990.000 đồng tại cửa hàng Đ1 địa chỉ số A X, phường D, Cầu G, Hà Nội. Tổng trị giá tài sản H1 chiếm đoạt của các bị hại là 34.490.000 đồng. Tang vật đã thu hồi và trao trả cho các bị hại.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Luật hình sự, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng bất bình trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có ý định, mục đích trộm cắp tài sản từ trước và thực hiện hành vi phạm tội ở chỗ đông người qua lại, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là rất cần thiết, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 419/2023/HSST ngày 28/12/2023, TAND quận Đống Đa, TP Hà Nội xử phạt 04 tháng 10 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản (Ra trại ngày 29/01/2024) (Chưa được xóa án tích); Như vậy bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục cũng như áp dụng chính sách hình sự của Nhà nước đối với loại tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, song bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục đối với bị cáo, để bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 04/5/2024 và ngày 05/5/2024; Bị cáo có 01 tiền án năm 2023 chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại đã nhận lại tài sản, không có ý kiến yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác, bị cáo Phạm Quang H1 có ông nội là Phạm Quang C được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, bị cáo có bà nội là Trần Thị T3 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo có bố đẻ là Phạm Quang H hiện đang công tác tại Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh N, quá trình công tác được nhận nhiều bằng khen, giấy khen, có thành tích xuất sắc trong công tác, bị cáo có mẹ đẻ là Lê Thị D đã nghỉ hưu, sức khỏe yếu, có nhiều bệnh phải điều trị tại bệnh viện, gia đình bị cáo đã có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương để đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm, làm lại cuộc đời. Do vậy, khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và nguồn thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 quần dài tối màu, 01 áo dài tay kẻ ô màu xanh là quần áo Phạm Quang H1 sử dụng khi đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 21/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố T4 đã ra quyết định xử lý vật chứng, đã trao trả 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen 128GB cho anh Trần Thế A. Ngày 01/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận C đã lập biên bản xử lý vật chứng, đã trao trả 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím 128GB cho chị Lê Thị T. Sau khi nhận lại tài sản, anh Trần Thế A và chị Lê Thị T không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà Lê Thị D là mẹ đẻ của bị cáo Phạm Quang H1, đã tự nguyện thay bị cáo H1 bồi thường số tiền 10.200.000 đồng cho anh Kiều Bá T1, bà D tự nguyện cho H1 số tiền này để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của H1 gây ra, bà D không yêu cầu H1 phải trả lại bà số tiền này, không có yêu cầu gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Quá trình điều tra xác định, anh Kiều Bá T1 khi mua 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen của Phạm Quang H1, anh T1 không biết tài sản này do H1 trộm cắp. Anh Kiều Bá T1 đã được bà Lê Thị D là mẹ của H1 khắc phục bồi thường số tiền anh đã mua điện thoại là 10.200.000 đồng, anh T1 không có yêu cầu gì về dân sự. Do anh T1 không biết tài sản trên do H1 phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quang H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo: Phạm Quang H1 20 (Hai mươi) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/05/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 quần dài tối màu đã qua sử dụng, 01 áo dài tay kẻ ô màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Quang H1.
Các vật chứng trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số 206/GN/THA-CA ngày 23/7/2024 giữa Công an quận C và Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
4. Về trách nhiệm dân sự.
Anh Trần Thế A và chị Lê Thị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Lê Thị D là mẹ đẻ của bị cáo Phạm Quang H1, đã tự nguyện thay bị cáo H1 bồi thường số tiền 10.200.000 (Mười triệu hai trăm nghìn) đồng cho anh Kiều Bá T1, bà D tự nguyện cho H1 số tiền này để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của H1 gây ra, bà D không yêu cầu H1 phải trả lại bà số tiền này, không có yêu cầu gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Anh Kiều Bá T1 khi mua 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen của Phạm Quang H1, anh T1 không biết tài sản này do H1 trộm cắp. Anh Kiều Bá T1 đã được bà Lê Thị D là mẹ của H1 khắc phục bồi thường số tiền anh đã mua điện thoại là 10.200.000 đồng, anh T1 không có yêu cầu gì về dân sự. Do anh T1 không biết tài sản trên do H1 phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 phần I Mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: Bị cáo Phạm Quang H1 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về phần Bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Hoàng Lan Chi |
Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 177/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo: Phạm Quang H1 20 (Hai mươi) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/05/2024. Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.
