TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 177/2024/HS-ST
Ngày 06-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
2. Bà Trần Thị Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoài G- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Vũ La S; sinh ngày 23 tháng 10 năm 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 116/2B Nguyễn Kim C, Tổ D, Ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Nhà trọ 187/6 T8 ấp A, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T (chết) và bà Vũ Thị Lệ M; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 1997, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp tài sản của công dân” theo bản án số 125/HS-ST ngày 18/7/1997. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấp đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
*Những người tham gia tố tụng:
Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1971. (có mặt)
Địa chỉ: E Ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/04/2023, Đỗ Vũ La S điều khiển xe gắn máy hiệu Wave màu xanh biển số 51Y3-2624 đến ngã ba B, Quốc lộ B để tìm Phạm Thị Mộng N đòi số tiền 700.000 đồng Như nợ S thì xảy ra mâu thuẫn. Lúc này, Nguyễn Văn H (là cậu ruột của N) thấy vậy đến can ngăn và la mắng S vì S cãi nhau với phụ nữ thì S chửi mắng và lấy xe đi về đường Quốc Lộ 22 vào đường Bà T1 để đi về nhà ở xã T, huyện C. H bị S chửi mắng nên bức xúc điều khiển xe chạy theo S đê ngăn S lại nói chuyện cho rõ. Khi đi đến trước nhà số B Bà T, ấp Đ, xã T, huyện H thì H đuổi theo kịp và chặn xe S giữa đường sau đó nắm cổ áo S và cầm điện thoại định gọi cho bạn H. S sợ H chặn xe và kêu người đến đánh nên đã rút con dao màu trắng dài khoảng 35cm, có cán bằng nhựa màu đen dài khoản 12cm trên gác baga xe (S mang theo bên mình để cắt thùng khi làm công việc bốc xếp) dùng tay phải đâm theo phương thẳng đứng, hướng từ dưới lên trên nhiều nhát trúng vào vùng đùi trái và bụng trái của H làm chảy máu nên H buông S ra và truy hô. S lên xe gắn máy bỏ chạy về hướng chợ H1 để đi về hướng xã T, huyện C. Trên đường đi, S vứt con dao xuống đường cống thoát nước trước nhà thờ T2 và đi về nhà, đến 14/4/2023, Cơ quan Công an mời S về để làm rõ vụ việc. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 403/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 15/6/2023 của Trung tâm pháp y Thành phố H đối với thương tích trên người Nguyễn Văn H như sau:1. Các kết quả chính:
- Vết thương vùng hông lưng trái gây đứt da, đứt một phần cơ lưng rộng, cơ răng trước, cơ răng sau với nhiều điểm chảy máu gây shock mất máu đã được điều trị mở rộng vết thương, đốt cầm máu, hện còn một sẹo trùng sẹo mổ kích thước 15,4x(0,2-0,7) cm (ảnh 1). Có tỉ lệ 03%.
- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện có:
- + Một sẹo vùng hạ sườn trái kích thước 4x0,2cm (ảnh 2). Có tỉ lệ 01%
- + Một sẹo vùng mặt trước đùi trái trùng sẹo mổ kích thước 13,7x(0,1-0,3)cm (ảnh 3); Có tỉ lệ 03%
- + Một sẹo vùng gối trái kích thước 2x0,1cm (ảnh 4). Có tỉ lệ 01%;
- + Một sẹo vùng mặt trước 1/3 dưới cẳng chân phải kích thước 4,5x0,1cm (ánh 5). Có tỉ lệ 01%
Năm vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.
- Vết thương vùng mặt trước ngoài 1/3 trên căng chân tría đã được điều trị, hiện còn một sẹo kích thước 4x0,1cm (ảnh 6), hình ảnh tổn thương vỏ xương chày ngay dưới vị trí vết thương (ảnh 1). Có tỉ lệ 02%;
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thê sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thân, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thế của Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác:
Vết thương vùng hông lưng trái gây nguy hiểm đến tính mạng, các vết thương còn lại thì không gây nguy hiểm đến tính mạng. Thông tư 22/2019/TT-BYT không quy định về: Cố tật, tính thẩm mỹ đối với trường hợp này.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Đỗ Vũ La S khai nhận nội dung như trên. Mục đích S dùng dao đâm H để gây thương tích do sợ H chặn xe và kêu người đến đánh, không có ý định tước đoạt tính mạng của H.
Vật chứng thu giữ: 01 con dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 35cm, có cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 12cm.
Về dân sự: Bị cáo Đỗ Vũ La S đã bồi thường 30.000.000 đồng, bị hại Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí khám bệnh và tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số: 150/CT-VKS-HM ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Vũ La S ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
Về trách nhiệm hình sự: đề nghị xử lý bị cáo từ 02 năm 6 tháng tù đến 3 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
- Về phần dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng, bị hại yêu cầu bồi thường thêm chi phí khám bệnh và chi phí tổn thất tinh thần là 5.000.000 đồng, bị hại đồng ý với việc bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề này
2. Bị hại Nguyễn Văn H thừa nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí khám bệnh và tổn thất tinh thần là 5.000.000 đồng.
3. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày bổ sung và không có ý kiến tranh luận với nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn.
Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Đồng ý bồi thường thêm số tiền 5.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại.
4. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua phần hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh:
Vào ngày 11/04/2023, tại trước nhà số B Bà T, ấp Đ, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Đỗ Vũ La S đã có hành vi dùng dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 35cm, có cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 12cm đâm nhiều nhát vào người của bị hại Nguyễn Văn H gây thương tích cho bị hại H với tỷ lệ thương tật 11%.
[2.2] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Bản cáo trạng số: 150/CT-VKS-HM ngày 07 tháng 5 năm 2024 truy tố bị cáo Đỗ Vũ La S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 134: Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần truy cứu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, mặc dù bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là mang tính bộc phát có một phần lỗi của bị hại chặn xe, nắm cổ áo bị cáo và gọi điện thoại cho bạn đến nhưng giữa bị cáo và bị hại không có mối quan hệ thân thiết, không có thù oán từ trước bị cáo đã dùng dao mang theo cắt thùng khi làm công việc bốc xếp để gây thương tích cho bị hại, bị cáo có nhân thân xấu, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Nên việc bị cáo xin hưởng án treo là chưa phù hợp.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có chấp hành tốt chính sách, pháp luật nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về xử lý vật chứng:
01 con dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 35cm, có cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 12cm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bồi thường thêm chi phí khám bệnh và chi phí tổn thất tinh thần là 5.000.000 đồng, bị hại đồng ý với việc bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề này
[5] Về án phí:
Bị cáo Đỗ Vũ La S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đỗ Vũ La S 03 (Ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
[2]. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 35cm, có cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 12cm.
Vật chứng của vụ án hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 5 năm 2024.
[3]. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 468, khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự;
Ghi nhận bị cáo Đỗ Vũ La S bồi thường cho ông Nguyễn Văn H số tiền là 5.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
[4] Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Vũ La S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[5] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[6] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Hồng Hải |
7
Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 177/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đỗ Vũ La S 03 (Ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
