Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2024/HS-ST

Ngày: 05-06 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Vinh Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Phương Nam và ông Nguyễn Văn Vy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cảm - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 140/2024/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024; đối với bị cáo:

         Hồ Văn T; sinh ngày 24/10/1976, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...]; nơi cư trú: B N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T1 (đã chết); con bà Dương Thị D; có vợ: Nguyễn Thị Cẩm L; có 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.

         Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/12/2023 cho đến nay. Có mặt.

         Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Anh T2, luật sư Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.

         Người đại diện hợp pháp của bị cáo và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1975; trú tại: B N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Có bà Dương Thị D, sinh năm 1949 (là mẹ bị cáo); tham gia phiên toà thay, có mặt.

         Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Văn T3, sinh ngày 11/6/2007; trú tại: B N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người giám hộ của anh T3: Chị Hồ Thị Thu T4, sinh năm 1995. Đều vắng mặt.

         Bị hại: Anh Trần Phong L1, sinh năm: 1979; trú tại: Tổ F, KV3, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

         Người làm chứng: Bà Trần Thị Trân C, sinh năm 1989; trú tại: 1 H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 15/7/2023, Hồ Văn T đạp xe đạp đi ngang quán N tại địa chỉ G đường H, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế thì nhìn thấy trên vỉa hè trước quán hướng ra đường H và "Hồ Trái Tim" có để 03 chiếc xe mô tô nhưng không có người trông giữ, liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thơ dựng xe đạp ở lề đường Hoàng Văn T5 rồi đi bộ đến dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 75F4 - 9361 của anh Trần Phong L1 (sinh ngày: 24/4/1979; trú tại: Tổ F, KV3, phường A, thành phố H) đưa đến cất giấu tại bãi đất trống trước Trung tâm T6 trên đường H, rồi quay lại lấy xe đạp đi phụ vợ bán hàng tại D T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

* Kết luận định giá tài sản số 175/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố H kết luận định giá như sau: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, số máy: C100ME-8029499, số khung: C100M-8029499, màu nâu, biển số 75F4-9361, đã qua sử dụng, tại thời điểm chiếm đoạt trị giá: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

* Tại bản kết luận Giám định số 1696 ngày 05/12/2023 của Trung tâm P, xác định tình trạng tâm thần của Hồ Văn T như sau:

  • - Trước thời điểm phạm tội:
    • Về y học: Rối loạn tâm thần và hành vi khác do sử dụng rượu (F10.8) + Xơ gan do rượu (K70.3) + Đái tháo đường (R73.0).
    • Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
  • - Tại thời điểm phạm tội (ngày 15/7/2023):
    • Về y học: Rối loạn tâm thần và hành vi khác do sử dụng rượu (F10.8) + Xơ gan do rượu (K70.3) + Đái tháo đường (R73.0).
    • Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiền hành vi.
  • - Thời điểm hiện tại:
    • Về y học: Rối loạn tâm thần và hành vi khác do sử dụng rượu (F10.8) + Xơ gan do rượu (K70.3) + Đái tháo đường (R73.0).
    • Đối tượng cần được điều trị ngoại trú và cách ly rượu.
    • Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, số máy: C100ME-8029499, số khung: C100M-8029499, màu nâu, biển số 75F4-9361, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) xe đạp thể thao màu đỏ- đen, trên khung xe có chữ “CROLAN”, xe đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) đĩa CD lưu trữ dữ liệu đoạn camera của quán N có ghi lại việc Hồ Văn T trộm cắp tài sản ngày 15/7/2023.

* Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) xe mô tô 75F-9361 do ông Trần C1 (sinh năm: 1957; trú tại: thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế) đứng tên đăng ký sở hữu, ông C1 tặng cho con là anh Trần Phong L1, quá trình sử dụng xe, anh L1 chưa thực hiện thủ tục sang tên. Cơ quan công an Thành phố H đã trả lại tài sản trên cho anh L1.
  • - Đối với 01 (một) chiếc xe đạp thể thao màu đỏ-đen là xe của em Hồ Văn T3 (sinh năm: 2007; là con của Hồ Văn T), em T3 cho T mượn để đi lại. Cơ quan Công an Thành phố H đã trả lại cho em Hồ Văn T3.

* Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu gì thêm. Người bị hại anh Trần Phong L1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 165/CT-VKSTPH ngày 10/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu bồi thường gì về dân sự, nên không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu; người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Đề nghị tuyên buộc bị cáo Hồ Văn T phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Hồ Văn T với nội dung hành vi phạm tội của bị cáo T đúng như cáo trạng truy tố. Đề nghị xem xét cho bị cáo Hồ Văn T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T là người hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vị; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; được quy định tại các điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị hại xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hiện nay, bị cáo thường xuyên ốm đau, thuộc trường hợp sức khoẻ yếu, cần phải điều trị thường xuyên. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, để bị cáo được chăm sóc, điều trị tại gia đình.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo – bà Dương Thị D trình bày bị cáo có biểu hiện loạn thần, từng phải điều trị bệnh tâm thần tại Bệnh viên tâm thần H, ngoài ra còn bị bệnh U gan và cả tiểu đường nặng; thường xuyên ốm đau, thuộc trường hợp sức khoẻ yếu, cần phải điều trị thường xuyên; gia đình không biết bị cáo có thể sống thêm được bao lâu nữa. Đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo được tại ngoại để tiện việc chăm sóc, điều trị tại gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

[2] Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 15/7/2023, tại 70 đường H, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Hồ Văn T đạp xe đạp đi ngang quán Nẫu thì nhìn thấy trên vỉa hè trước quán có để 03 chiếc xe mô tô nhưng không có người trông giữ, liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thơ dựng xe đạp ở lề đường Hoàng Văn T5 rồi đi bộ đến dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 75F4 - 9361 của anh Trần Phong L1, trị giá: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) đưa đến cất giấu tại bãi đất trống trước Trung tâm T6 trên đường H, thì bị phát hiện.

Hành vi của bị cáo Hồ Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Hồ Văn T tại Bản cáo trạng số 165/CT-VKSTPH ngày 10/5/2024 theo tội danh, điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Hồ Văn T không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T là người hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; thành khẩn khai báo và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; được quy định tại các điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Hồ Văn T trước thời điểm phạm tội, tại thời điểm phạm tội và thời điểm hiện tại bị cáo Hồ Văn T được xác định là người hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; nhưng bị cáo vẫn nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm pháp và sẽ bị pháp luật xử lý nhưng vẫn lén lút, lợi dụng sự sở hở để chiếm đoạt tài sản. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hiện nay, bị cáo thường xuyên ốm đau, thuộc trường hợp sức khoẻ yếu, cần phải điều trị thường xuyên. Hội đồng xét xử thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung nên có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để thể hiện rõ sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có nghề nghiệp, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cho bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 (một) đĩa CD lưu trữ dữ liệu đoạn camera của quán N có ghi lại việc Hồ Văn T trộm cắp tài sản ngày 15/7/2023 cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo Hồ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về trách nhiệm hình sự:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Hồ Văn T cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự 2019.

    Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự. Cho bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    - Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hồ Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh T.T.Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh T.T.Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - CA thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - UBND phường Vỹ Dạ;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có qlnvlq;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hồ Vinh Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 177/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn Thơ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger