|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 177/2023/HS-PT Ngày: 29-12-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu
Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Vũ
Bà Dương Thuý Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 130/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Văn N, sinh năm 1979 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn G (đã chết) và bà Dương Thị A (đã chết); bị cáo có vợ tên Lê Thị Thu X và có 01 người con; tiền án, tiền sự: không có;
Nhân thân:
- + Bản án số 95/2020/HS-ST ngày 28-10-2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo N 30.000.000 đồng về tội "Đánh bạc", chấp hành xong ngày 05-02-2021, được xóa án tích;
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 111/QĐ-XPVPHC ngày 10-4-2017 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh phạt số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép”, nộp phạt ngày 07-6-2017;
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 243/QĐ-XPHC ngày 30-8-2017 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh phạt số tiền 10.000.000 đồng về hành vi “Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép”, nộp phạt ngày 27-3-2018, đã hết thời hạn được xem chưa bị xử lý vi phạm hành chính;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-11-2022, đến ngày 26-11-2022, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay; có mặt.
2. Lê Văn H, sinh năm 1987 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H1 và bà Lê Thị H2; bị cáo có vợ tên Dương Thị H3 và có 01 người con; Tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25-11-2022 đến nay; có mặt.
- Bị cáo bị kháng nghị:
3. Cao Ngọc T, sinh năm 1990 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Ngọc L và bà Võ Thị H4; vợ tên Trần Thị Bé L1; có 01 người con sinh năm 2011.
Tiền án: Bản án số 62/2021/HS-ST ngày 08-7-2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; phạt bị cáo Cao Ngọc T 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt ngày 23-10-2021 và nộp án phí ngày 04-11-2021, chưa được xóa án tích; Tiền sự: không có.
Nhân thân:
- Bản án số 98/2019/HS-ST ngày 21-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; phạt Cao Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; chấp hành xong hình phạt ngày 25-10-2020, nộp án phí ngày 13-3-2020.
- Quyết định số 2505/QĐ-UBND ngày 02-12-2009, Chủ tịch UBND tỉnh T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi "Gây rối trật tự công cộng", thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 30-8-2011;
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 229/QĐ-XPHC ngày 12-4-2017 của Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh; phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 27-6-2017;
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC ngày 21-3-2019 Công an huyện T; phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Đánh bạc", nộp phạt ngày 22-3-2019, các quyết định đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; từ ngày 25-11-2022 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17-11-2022, Trần Văn N, Lê Văn H lợi dụng vườn cao su; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T; không có người trông coi, tổ chức đá gà. Nhiều và H chuẩn bị cân đồng hồ, băng keo phục vụ đá gà và làm trọng tài, gọi điện thoại cho những chủ gà hẹn kèo đá gà và hưởng 5%/ số tiền cá cược của bên thắng, tổ chức được 01 trận đá gà thắng thua bằng tiền, đến trận đá gà thứ 2, chưa đá bị bắt, cụ thể như sau:
Trận gà thứ nhất: Gà cao lãnh màu khét nặng 2,5kg của Nguyễn Quốc L2 đá với gà cão lãnh màu điều nặng 2,5kg của Lê Văn Ú, số tiền cược 7.000.000 đồng.
- + Nhóm Gà của L2 có Hứa Thanh H5 hùn số tiền 3.000.000 đồng, L2 hùn 2.000.000 đồng, Nguyễn Thanh H6 hùn 2.000.000 đồng; H6 băng cựa G1; L2 thả Gà.
- + Nhóm Gà của Lê Văn Ú có: Phạm Văn S và Lê Văn Ú; mỗi người hùn số tiền 2.000.000 đồng, Phạm Hoàng  hùn 500.000 đồng; Mai Văn T1 hùn 500.000 đồng; Trương Công D hùn 500.000 đồng và 1 đàn ông không xác định đã hùn 1.500.000 đồng; Thân băng cựa và thả G1 cho Ú.
Nhiều trực tiếp cân Gà cho 2 bên; H làm trọng tài và đếm thả Gà.
Kết quả gà của bên Ú thắng, nhóm của L2 chưa chung tiền, N và H chưa nhận tiền công trọng tài 350.000 đồng.
Những người tham gia đá hàng sáo ở trận gà thứ 1 gồm:
- Nguyễn Trung T2 hùn 1.000.000 đồng
- Cao Ngọc T hùn 1.000.000 đồng,
T2, T chọn Gà của Lê Văn Ú đá hàng sáo với 1 người đàn ông không xác định, cược số tiền 2.000.000 đồng, do Lê Văn H làm biện gà; T2 và T thắng, H nhận tiền từ người thua gioa cho N; Nhiều đã giao cho T 2.000.000 đồng; T trả cho N, H 100.000 đồng công biện gà.
- Trần Đoàn Đức L3 chọn gà của Lê Văn Ú đá hàng sáo với Trần Văn T3 cược số tiền 5.000.000 đồng, tỷ lệ ăn 9, thua đủ, T3 làm biện gà; L3 thắng, được T3 giao số tiền 4.500.000 đồng trừ cho T3 250.000 đồng tiền công biện gà.
- Trần Đoàn Đức L3 chọn Gà của Lê Văn Ú đá hàng sáo với Trần Phước Q; cược số tiền 2.000.000 đồng, tỷ lệ ăn 9 thua đủ, Q làm biện gà; L3 thắng được Q1 giao số tiền 1.800.000 đồng và đã trừ 100.000 đồng cho Q1 công biện gà.
- Huỳnh Văn Cu chọn gà của Lê Văn Ú đá hàng sáo với 1 người đàn ông lạ, cược số tiền 1.000.000 đồng, Cu thắng và được người đàn ông lạ trả tiền.
Trận thứ 1 tổng số tiền đánh bạc 33.300.000 đồng ( đá chính số tiền 14.000.000 đồng, đá hàng sáo 19.300.000 đồng); trong đó số tiền đá gà thông qua Nhiều và H 18.000.000 đồng.
Trận gà thứ hai: Gà cao lãnh màu xám nặng 2,18kg của Nguyễn Quốc L2 đá với gà cao lãnh màu điều nặng 2,25kg của Trần Văn H7 và Đặng Thanh T4; tỷ lệ ăn 10 thua 8, cược số tiền 2.000.000 đồng, các bên đang băng cựa gà, chưa kịp đá đã bị bắt.
Những người tham gia đá hàng sáo trận gà thứ 2 gồm: Dương Văn Đ, chọn gà của Trần Văn H7 đá hàng sáo với 1 người lạ, cược số tiền 150.000 đồng.
Trận gà đá thứ 2, số tiền dùng đánh bạc 3.900.000 đồng (đá chính 3.600.000 đồng + đá hàng sáo 300.000 đồng).
Quá trình điều tra, Trần Văn N và Lê Văn H khai ra đã tổ chức đá gà ăn tiền được khoảng 01 tháng, mỗi ngày thu lợi số tiền khoảng 1.000.000 đồng, tổng số tiền thu lợi khoảng 30.000.000 đồng; ngoài lời khai của N và H không có chứng cứ khác chứng minh hành vi phạm tội trước đó.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; quyết định:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”;
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Cao Ngọc T 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”;
Bản án quyết định hình phạt “Cải tạo không giam giữ” đối với các bị cáo Hứa Thanh H5, Trương Công D, Mai Văn T1, Phạm Hoàng Â; Hình phạt tiền đối với các bị cáo Trần Đoàn Đức L4, Trần Văn T3 Trần Văn T3, Nguyễn Quốc L2, Nguyễn Thanh H6, Lê Văn Ú, Phan Văn S1, Nguyễn Trung T2
Ngày 05-9-2023, các bị cáo Trần Văn N, Lê Văn H có đơn kháng cáo xin được hình phạt cải tạo không giam giữ.
Ngày 18-9-2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có Quyết định số 09/QĐ-VKS; quyết định kháng nghị, đề nghị cấp phúc thẩm huỷ 1 phần bản án sơ thẩm đối với bị cáo Cao Ngọc T; lý do như sau: Tháng 11-2019, T bị Toà án phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đến ngày 25-10-2020 chấp hành xong bản án này; như vậy tính đến ngày 25-10-2022 T được xoá án tích; nhưng tháng 7-2021, T tiếp tục phạm tội “Đánh bạc” khi chưa được xoá án tích của bản án năm 2019, thuộc trường hợp tái phạm; đến lần phạm tội trong vụ án này, T thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, phải truy tố và xét xử điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự có tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”; nhưng cấp sơ thẩm truy tố và xét xử bị cáo T khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự là vi phạm tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- + Bị cáo Nhiều giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- + Bị cáo H xin phạt tiền, bị cáo cung cấp Sổ tiết kiệm gửi tại Ngân hàng TMCP Á – Chi nhánh T5;
- + Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định kháng nghị; đề nghị huỷ 1 phần bản án sơ thẩm theo nội dung của quyết định kháng nghị; đề nghị giữ nguyên hình phạt của bị cáo N; áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Lê Văn H.
Các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo có lời nói sau xin được chấp nhận yêu cầu kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi của các bị cáo thực hiện:
- [2.1] Ngày 17-11-2022, tại vườn cao su không có người quản lý tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; bị cáo N và H tổ chức 02 trận đá gà cho các đối tượng: H5, L2, H6, D, S1, Ú, Â, T1; tham gia hàng sáo có các đối tượng T2, T, L4, T3, Q1, Cu. Đến trận đá gà thứ 2 chưa diễn ra đã bị bắt quả tang.
- [2.2] Số tiền dùng đánh bạc của 2 trận đá gà: 33.300.000 đồng; trong đó trận thứ nhất số tiền đánh bạc 14.000.000 đồng, trận thứ 2 số tiền đánh bạc 3.600.000 đồng.
[3] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Toà án sơ thẩm xét xử hành vi của các bị cáo N, H về tội “Tổ chức đánh bạc”; Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; xét xử hành vi của các bị cáo Hứa Thanh H5, Trương Công D, Mai Văn T1, Phạm Hoàng Â, Trần Đoàn Đức L4, Trần Văn T3 Trần Văn T3, Nguyễn Quốc L2, Nguyễn Thanh H6, Lê Văn Ú, Phan Văn S1, Nguyễn Trung T2; về tội “Đánh bạc” là đúng pháp luật.
[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đối với bị cáo Cao Ngọc T; thấy rằng:
- [4.1] Bản án số 98/2019/HS-ST ngày 21-11-2019 của TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; phạt bị cáo Cao Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25-10-2020, đã nộp án phí vào ngày 13-3-2020; Căn cứ Điều 72 của Bộ luật Tố tụng hình sự; đến ngày 25-10-2022 bị cáo T đương nhiên được xoá án tích.
- [4.2] Tuy nhiên ngày 10-02-2021, bị cáo T tiếp tục đánh bạc trong thời gian chưa được xoá án tích; tiếp tục Bản án số 62/2021/HS-ST ngày 08-7-2021, TAND huyện Tân Biên phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”; lần này đã xác định bị cáo “tái phạm” chấp hành xong bản án 61 vào ngày 23-10-2021 và ngày 04-11-2021 nộp án phí; như vậy Bản án số 62 tính đến ngày 04-11-2023 đương nhiên được xóa án tích;
- [4.3] Nhưng ngày 17-11-2022, bị cáo tiếp tục đánh bạc và phạm tội mới trong thời gian chưa được xoá án án tích của Bản án số 62, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, phải truy tố và xét xử điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; nhưng cấp sơ thẩm truy tố và xét xử bị cáo khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự là vi phạm tố tụng;
- [4.4] Chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Tây Ninh; huỷ 1 phần bản án sơ thẩm hình sự của TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đối với bị cáo Cao Ngọc T.
[5] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn N;
- [5.1] Hành vi của bị cáo tổ chức 2 trận đá gà cho nhiều bị cáo tham gia đá chính và đá hàng sáo, nhưng trận đá gà thứ 2 chưa diễn ra bị bắt quả tang, số tiền thu lợi không lớn. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu về hành vi đánh bạc, trong năm 2017 đã 2 lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Ngày 28-10-2020 bị Toà án xét xử về tội “ Đánh bạc”; áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo; đến nay bị cáo tiếp tục tổ chức trên 10 người tham gia đá gà; gây mất trật tự trị an tại địa phương.
- [5.2] Toà án sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo; áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nên phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù, dưới khung hình phạt, không nặng; bị cáo kháng cáo xin hình phạt “Cải tạo không giam giữ” là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn H:
- [6.1] Bị cáo kháng cáo xin được phạt tiền và trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo nộp số tiền 50.000.000 đồng tại Ngân hàng CP Á - Chi nhánh T5;
- [6.2] Xét thấy, bị cáo tham gia trong vụ án với vai trò đồng phạm giản đơn, cùng với bị cáo N chuẩn bị cân đồng hồ và băng keo cho việc đá gà. Trong trận đá gà thứ nhất, có đá chính và đá hàng sáo; đá hàng sáo có nhiều cặp cá cược, nhưng bị cáo làm trọng tài cho cặp của T2 và T cá cược, được bị cáo T trả công số tiền 100.000 đồng, thu lợi không lớn; đối với trận đá gà thứ 2 chưa diễn ra bị bắt.
- [6.3] Toà án sơ thẩm có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng. Ngoài ra, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nhiệm hình sự khác như: đến Công an đầu thú hành vi phạm tội của mình, được Toà án sơ thẩm xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, chưa được Toà án sơ thẩm xem xét.
- [6.4] Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; căn cứ Điều 35 của Bộ luật Hình sự; bị cáo đủ điều kiện áp dụng hình phạt tiền; Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo.
[7] Kiểm sát viên tại phiên toà để nghị áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo phù hợp nên chấp nhận.
[8] Án phí phúc thẩm hình sự: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Các bị cáo H và T không phải chịu án phí. Bị cáo N phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-11-2022 đến ngày 26-11-2022.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn H số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng;
- Huỷ một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đối với bị cáo Cao Ngọc T; giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố lại theo thủ tục chung đối với bị cáo Cao Ngọc T.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn N phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng; các bị cáo Cao Ngọc T và Lê Thanh H8 không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị; đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Thẻ tiết kiệm có kỳ hạn số IR 44865(bản chính); nơi mở thẻ: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á – Chi nhánh T5 vào ngày 06-10-2023; số tiền gửi 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, Người gửi: Lê Văn H; địa chỉ: Tổ C, đường S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; để đảm bảo thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ĐÃ KÝ Nguyễn Thanh Minh Châu |
Bản án số 177/2023/HS-PT ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 177/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Nhiều và đồng phạm
