Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 177/2023/DS-PT

Ngày: 29-12-2023

V/v tranh chấp đất đai

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Nguyễn Lê Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Lương Thị Mai Chăm – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2023/TLPT-DS ngày 14 tháng 8 năm 2023, về việc: “Tranh chấp đất đai”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi bị kháng cáo, kháng nghị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2023/QĐ-PT ngày 23 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hồ Đức N, sinh năm 1984

Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Ngọc T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 22/5/2023)

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1963

Địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Trí V, sinh năm 1958; Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 01/8/2022)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965
  2. Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

  3. Ông Đinh Văn H, sinh năm 1992
  4. Ông Đinh Văn M, sinh năm 1982
  5. Ông Đinh Văn H1, sinh năm 1989
  6. Bà Đinh Thị Ái H2, sinh năm 1985

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Đ; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Đinh Văn H, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1, bà Đinh Thị Ái H2.

Tại phiên toà, có mặt: ông Ngô Ngọc T, bà Phạm Thị Đ, bà Nguyễn Thị N1, ông Đinh Văn H, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1, bà Đinh Thị Ái H2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn ông Hồ Đức N và người đại diện theo ủy quyền ông Ngô Ngọc T trình bày:

Tại đơn khởi kiện ngày 17/12/2019, ông N yêu cầu bà Phạm Thị Đ, cùng các con của bà Đ là bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H phải trả lại diện tích 1.260m² đất tại thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Theo ông N, diện tích đất này thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 831056 ngày 12/6/1998 của UBND huyện H (nay là Ủy ban nhân dân thị xã L) mang tên ông Đinh Văn H3, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L cập nhật biến động cho ông Hồ Đức N ngày 05/7/2006.

Tại Bản tự khai ngày 07/3/2023 và tại phiên tòa, ông N thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà Phạm Thị Đ, cùng các con của bà Đ là bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H trả lại 678,9m² đất.

Bị đơn bà Phạm Thị Đ trình bày:

Diện tích 678,9m² đất đang tranh chấp do cha chồng bà Đ tặng cho từ năm 1985, sau đó gia đình bà canh tác. Đến năm 1998, bà đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, năm 2017, bà mới phát hiện diện tích đất mà ông N đang tranh chấp không thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho gia đình bà. Bà không đồng ý với yêu cầu của của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Ngô Trí V cho rằng đất mà nguyên đơn tranh chấp không thuộc giấy chứng nhận cấp cho ông H3, mà thuộc đất cấp cho gia đình bà Đ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Đ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N1 trình bày:

Số tiền chuyển nhượng đất với vợ chồng ông Đinh Văn H3 là bà đưa cho con ruột là Hồ Đức N nhận chuyển nhượng. Bà mua cho con là Hồ Đức N, bà cũng yêu cầu bà Đ cùng các con của bà Đ trả lại đất lấn chiếm cho ông N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi (Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 118/2023/QĐ-SCBSBA ngày 22/5/2023) đã quyết định:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, khoản 1 Điều 147, Điều 149, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 12, Điều 100, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Đức N về việc: “Tranh chấp đất đai”. Buộc bà Phạm Thị Đ, bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H phải trả lại diện tích 678,9m² đất cho ông Hồ Đức N theo sơ đồ hiện trạng thừa ngày 05/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản, giám định và các chi phí tố tụng khác, án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/5/2023, bị đơn bà Phạm Thị Đ, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn H, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1, bà Đinh Thị Ái H2 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ngày 05/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi kháng nghị một phần bản án về án phí.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H, ông M, ông H1, bà H2, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm vì bản án sơ thẩm tuyên xử về phần án phí không đúng quy định, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận rút một phần kháng nghị đối với phần bà Đ đã đủ 60 tuổi nên không phải chịu án phí; giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đối với phần còn lại, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần án phí không có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

1. Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân thị xã L. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi về án phí.

[1] Kháng nghị của Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân thị xã L; Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị Đ; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn H, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1, bà Đinh Thị Ái H2 nộp trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo, thấy rằng:

[2.1] Nguyên đơn ông Hồ Đức N khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Đ cùng các con của bà Đ là bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H phải trả lại diện tích 1.260m² đất tọa lạc tại thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Nhưng sau khi tiến hành xem xét, thẩm định và đo đạc, ông N đã thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà Đ và các con bà Đ là bà H2, ông M, ông H1, ông H trả lại 678,9m² theo Sơ đồ hiện trạng thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai La Gi đo vẽ ngày 05/9/2022.

[2.2] Về nguồn gốc đất tranh chấp:

Theo nguyên đơn ông Hồ Đức N thì thừa đất này có nguồn gốc từ việc ông Đinh Văn H3 (hiện nay đã chết) là chồng của bà Nguyễn Thị L bán trừ nợ cho mẹ ông Hồ Đức Nghĩa 1 bà Phạm Thị N2 trong quá trình mua bán thức ăn chăn nuôi. Việc trừ nợ và số tiền chuyển nhượng còn lại bà N2 đã thanh toán đủ cho ông Đinh Văn H3. Do bà N2 cho ông N thừa đất này nên yêu cầu ông Đinh Văn H3 ký hợp đồng sang tên thẳng cho ông N và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L cập nhật biến động cho ông Hồ Đức N vào ngày 05/7/2006.

Những nội dung này đều phù hợp với Biên bản xác minh ngày 09/11/2022 của Ủy ban nhân dân xã T, Biên bản làm việc ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L, Ủy ban nhân dân xã T và Công văn số 444/UBND-TNMT ngày 28/02/2023 của Ủy ban nhân dân thị xã L đều xác định nguồn gốc tranh chấp diện tích 678,9m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 831056 ngày 12/6/1998 của Ủy ban nhân dân huyện H (cũ)

mang tên ông Đinh Văn H3 được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động cho ông Hồ Đức N ngày 05/7/2006. Đồng thời, quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đinh Văn H3 và quá trình ông Đinh Văn H3 thực hiện chuyển quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Hồ Đức N đều được cơ quan quản lý đất đai thị xã L khẳng định là thực hiện đúng quy định pháp luật về Luật Đất đai.

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận có Công văn số 381/TABT-TDS, ngày 25/9/2023 để trao đổi thông tin với chi nhánh Văn phòng Đ1 và được Chi nhánh Văn phòng Đ phúc đáp tại Công văn số 2324/CN.VPĐKĐĐLG, ngày 24/11/2023 khẳng định toàn bộ diện tích 678,9m² đất tranh chấp thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 831056 cấp ngày 12/6/1998 của Ủy ban nhân dân huyện H (cũ) mang tên ông Đinh Văn H3 được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động cho ông Hồ Đức N ngày 05/7/2006.

[2.3] Bị đơn bà Phạm Thị Đ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại, nhưng qua những nhận định trên, cũng như toàn bộ quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, những người này không xuất trình được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất tranh chấp.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Đức N. Buộc bà Phạm Thị Đ, bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H phải trả lại diện tích 678,9m² đất cho ông Hồ Đức N theo sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 05/9/2022 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã L vẽ là hoàn toàn có căn cứ.

Bà Phạm Thị Đ, bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận, giữ nguyên phần nội dung bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

[3] Quá trình giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án nhân dân thị xã La Gi đã lấy lời khai của bà Nguyễn Thị L (vợ của ông Đinh Văn H3) và tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2023, bà L đã có đề nghị không đưa bà vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bởi lẽ, bà không biết ông H3 đã bán đất này cho ai và diện tích đất này là của ông H3 nên ông H3 có quyền quyết định việc mua bán, nhưng trong giai đoạn kháng cáo bà L có đơn đề nghị cho giám định chữ ký của bà. Xét thấy đây là giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Hồ Đức N với bà Phạm Thị Đ và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (con bà Đ) và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm bà Nguyễn Thị L đã yêu cầu không đưa mình vào tham gia tố tụng cũng như không yêu cầu về giám định chữ ký nên không chấp nhận yêu cầu đề nghị của bà L trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Nếu bà Nguyễn Thị L xét thấy quyền lợi của mình ảnh hưởng thì có thể làm đơn để khởi kiện thành một vụ án khác.

[4] Đối với nội dung Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi:

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận rút một phần kháng nghị đối với phần án phí 300.000 đồng mà bà Phạm Thị Đ không phải chịu vì bà Đ đã đủ 60 tuổi, còn phần kháng nghị về án phí không có giá ngạch vẫn giữ nguyên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị rút một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[4.1] Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Đức N chỉ yêu cầu bị đơn và các con của bị đơn phải trả lại diện tích 678,9m² đất nên bản chất vụ án này là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, cụ thể là quyền sử dụng đất, ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu nào khác nên việc Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bị đơn phải chịu 25.453.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (án phí có giá ngạch) là không đúng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 (án phí không có giá ngạch) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do đó, chấp nhận phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi (Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 118/2023/QĐ-SCBSBA ngày 22/5/2023) về phần án phí.

[4.2] Thời điểm Tòa án nhân dân thị xã La Gi xét xử vụ án, mặc dù bị đơn bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1963 là người đủ 60 tuổi nhưng để miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án thì bà Phạm Thị Đ phải làm hồ sơ đề nghị theo như quy định tại Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nên, căn cứ theo hồ sơ vụ án thể hiện thì bà Đ chưa đủ điều kiện để được miễn án phí nên việc bà Đ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (con bà Đ) kháng cáo liên quan đến nội dung này là không có căn cứ chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Bản án sơ thẩm bị sửa nên người kháng cáo bà Phạm Thị Đ, bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Chấp nhận phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Đ, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi (Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 118/2023/QĐ-SCBSBA ngày 22/5/2023) về phần án phí.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 221 Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Đức N về việc “Tranh chấp đất đai”. Buộc bà Phạm Thị Đ, bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H phải trả lại diện tích 678,9m² đất cho ông Hồ Đức N theo sơ đồ hiện trạng thừa ngày 05/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

(Đính kèm sơ đồ hiện trạng thừa ngày 05/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã L, tỉnh Bình Thuận).

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Bà Phạm Thị Đ phải trả lại cho ông Hồ Đức N chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 6.500.000 đồng.

3. Về án phí:

  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Đ phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Hồ Đức N 11.700.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0001487 ngày 27/10/2020 và 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0001436 ngày 13/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị Đ, bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Phạm Thị Đ, bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0016505, 0016503, 0016502, 0016504, 0016506 ngày 01/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/12/2023).

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - TAND thị xã La Gi;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP, TDS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2023/DS-PT ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đất đai

  • Số bản án: 177/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại đơn khởi kiện ngày 17/12/2019, ông N yêu cầu bà Phạm Thị Đ, cùng các con của bà Đ là bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H phải trả lại diện tích 1.260m2 đất tại thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Theo ông N, diện tích đất này thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 831056 ngày 12/6/1998 của UBND huyện H (nay là Ủy ban nhân dân thị xã L) mang tên ông Đinh Văn H3, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L cập nhật biến động cho ông Hồ Đức N ngày 05/7/2006. Tại Bản tự khai ngày 07/3/2023 và tại phiên tòa, ông N thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà Phạm Thị Đ, cùng các con của bà Đ là bà Đinh Thị Ái H2, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn H1 và ông Đinh Văn H trả lại 678,9m2 đất.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger