|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1760/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 08 - 2024
V/v tranh chấp: ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kha
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Hồ Thị Lang
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2262/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 361/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hoài H sinh năm: 1978
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hải Đ sinh năm: 1980
Địa chỉ: 27/4/26 đường A, phường B, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 98/20 đường X, phường Y, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:
Bà Lê Thị Hoài H và ông Nguyễn Hải Đ chung sống tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường 7 quận Bình Thạnh thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống, thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020 đôi bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hòa hợp được với nhau, thường xuyên gây cãi với nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong lối sống và cách sống. Mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được, đôi bên đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên bà Lê Thị Hoài H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Vân A sinh ngày 27/12/2013 và Nguyễn Quỳnh A1 sinh ngày 17/03/2008, bà H yêu cầu được là người trực tiếp nuôi hai con vì con còn nhỏ và hiện vẫn do bà chăm sóc nuôi dưỡng, do có đủ điều kiện và khả năng nuôi con nên bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn Hải Đ không có ý kiến trình bày vì không đến Tòa theo các lần triệu tập của Tòa án để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như không gửi văn bản nêu ý kiến và các chứng cứ tài liệu kèm theo.
Ngày 08/08/2024, bà Lê Thị Hoài H có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến yêu cầu như trình bày nêu trên, ngoài ra không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Bị đơn Nguyễn Hải Đ đến phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến (theo Phát biểu số 322 ngày 29/08/2024):
- - về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và trong việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- - về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn từ khi thụ lý đến phiên tòa xét xử bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.
- - về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Tranh chấp giữa các bên trong vụ án là tranh chấp về ly hôn, bị đơn Nguyễn Hải Đ cư trú tại quận Bình Thạnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục:
Nguyên đơn Lê Thị Hoài H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy Đơn đề nghị xét xử vắng mặt khi Tòa án mở phiên tòa của nguyên đơn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn và tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Sau khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, bị đơn Nguyễn Hải Đ đã được Toà án nhiều lần thông báo, triệu tập đến Toà để giải quyết vụ án. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng được thực hiện hợp lệ, đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự nhưng đến phiên tòa lần hai bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Theo Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định đương sư có nghĩa vụ chứng minh, nhưng bị đơn không đến tòa, cũng như không cung cấp các tài liệu, chứng cứ nên Tòa án căn cứ những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc để giải quyết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị Hoài H và ông Nguyễn Hải Đ tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường 7 quận Bình Thạnh thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70 ngày 17 tháng 07 năm 2007, nên quan hệ giữa bà H và ông Đ là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì trong quá trình chung sống bà H và ông Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hòa hợp được với nhau, thường xuyên gây cãi với nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về lối sống và cách sống. Mâu thuẫn kéo dài, hai bên không thể hàn gắn được nên đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay.
Sau khi tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Hải Đ lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử nhưng đến lần thứ hai mở phiên tòa ông Đ vẫn không có mặt, không có ý kiến phản hồi cũng như không cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân của mình. Việc này thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không nghiêm, không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật, ông Đ đã tự từ bỏ quyền trình bày nhằm bảo vệ quyền lợi của mình tại tòa, đồng thời thể hiện ông không quan tâm đến việc duy trì quan hệ hôn nhân của mình.
Xét thấy quan hệ hôn nhận hạnh phúc bền vững phải dựa trên cơ sở tình cảm tự nguyện, thiện chí của vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình. Nhưng tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông Đ đã trở nên trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Lê Thị Hoài H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: trong thời kỳ hôn nhân bà H và ông Đ có 02 con chung tên Nguyễn Vân A sinh ngày 27/12/2013 và Nguyễn Quỳnh A1 sinh ngày 17/03/2008, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con do bà có đủ điều kiện, khả năng nuôi con.
Xét thấy ông Đ đã được Tòa án triệu tập nhiều lần vẫn không có mặt, thể hiện ông Đ tự từ bỏ quyền và trách nhiệm trình bày yêu cầu về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời hai trẻ Nguyễn Vân A và Nguyễn Quỳnh A1 hiện nay vẫn do bà H nuôi dưỡng chăm sóc và có nguyện vọng được ở với bà H, nên việc tiếp tục giao cho bà Lê Thị Hoài H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo lợi ích của trẻ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con của bà H và ghi nhận việc bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không yêu cầu tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn Lê Thị Hoài H phải chịu tiền án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Lê Thị Hoài H.
- - Về hôn nhân: bà Lê Thị Hoài H được ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ.
- - Về con chung: giao cho bà Lê Thị Hoài H trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Vân A sinh ngày 27/12/2013 và Nguyễn Quỳnh A1 sinh ngày 17/03/2008, bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
- Ông Nguyễn Hải Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
- Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng một hoặc cả hai bên được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc tiền cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết, nên tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Lê Thị Hoài H phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0029043 ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, bà H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 12 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Kha |
Bản án số 1760/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1760/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hôn nhân gia đình
