|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 176/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 10 - 2023 V/v tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Dũng
- Bà Phạm Hồng Gái
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 539/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Bích N, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp V, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Lê Tấn Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ G, ấp S, xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Các đương sự có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bích N trình bày: Nguyên vào năm 2015, anh chị quen biết nhau, được gia đình hai bên thống nhất cho tổ chức đám cưới, sau đó anh chị đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy Chứng nhận kết hôn ngày 20/01/2016. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 03 con chung gồm: cháu Lê Thị Kim N1, sinh ngày 28/8/2016, Lê Thị Kim V, sinh ngày 24/4/2019 và cháu Lê Tấn C, sinh ngày 21/3/2021. Thời gian từ tháng 3/2023, giữa vợ chồng thường xảy ra cãi vã do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn giữa chị và mẹ chồng không dung hòa được, dẫn đến vợ chồng sống ly thân, chị bỏ về nhà cha mẹ ruột ở cho đến nay. Vì vậy, chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Tấn Đ. Về con chung, chị đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V và C nên chị nhận nuôi hai cháu, cháu N1 hiện đang ở với anh Đ nên giao cháu N1 cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Tấn Đ trình bày: Quá trình kết hôn và chung sống giữa anh và vợ anh như vợ anh trình bày là đúng. Anh còn thương vợ, thương các con nên không muốn ly hôn. Giữa vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Ngày 20/02/2023 (âm lịch), khi anh chở vợ con về nhà mẹ vợ chơi thì mẹ vợ anh không cho chở về, từ đó vợ và hai con ở lại nhà mẹ vợ luôn, anh và cháu N1 về nhà anh ở. Anh muốn vợ chồng tiếp tục chung sống để nuôi dạy con cái, tuy nhiên chị N đã cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh yêu cầu được nuôi hai con Lê Thị Kim N1 và Lê Tấn C, không yêu cầu vợ anh phải cấp dưỡng nuôi con, đồng thời anh yêu cầu vợ và gia đình vợ không được cấm cản anh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, vì khi ly thân anh bị gia đình vợ cấm cản không cho thăm hai cháu V và C. Về tài sản chung và nợ chung, quá trình chung sống không có tài sản chung, không có nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hện pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bích N khởi kiện anh Lê Tấn Đ để yêu cầu giải quyết việc ly hôn và nuôi con, anh Đ có nơi cư trú tại Tổ G, ấp S, xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên vụ án về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con giữa chị N và anh Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Đ chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 20/01/2016, do đó hôn nhân giữa chị N và anh Đ là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian từ năm 2015 cho đến năm 2022, anh chị chung sống hạnh phúc, hòa thuận và thương yêu nhau, nhưng kể từ đầu năm 2023 đến nay tình cảm vợ chồng bắt đầu rạn nứt, nguyên nhân do mâu thuẫn giữa vợ chồng trong sinh hoạt hàng ngày, mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu, mâu thuẫn giữa mẹ vợ con rể, từ đó vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xảy ra cự cãi, từ tháng 3 năm 2023 đến nay chị N dẫn hai cháu V và C về nhà mẹ ruột sinh sống, mặc dù anh chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được giải quyết, chị N cương quyết ly hôn. Xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023, thiếu sự quan tâm, thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, chị N không còn tình cảm với anh Đ, nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận cho chị N ly hôn với anh Đ, là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về nuôi con chung: Chị N và anh Đ có 03 con chung là cháu Lê Thị Kim N1, sinh ngày 28/8/2016, Lê Thị Kim V, sinh ngày 24/4/2019 và cháu Lê Tấn C, sinh ngày 21/3/2021. Cháu N1 hiện nay đang sống với anh Đ và có nguyện vọng muốn ở với cha, cháu V và cháu C hiện đang sống với chị N, cả hai cháu còn quá nhỏ, trong đó cháu C chưa đủ 36 tháng tuổi, xét nên để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần cho các con và theo nguyện vọng của cháu N1, xét nên giao cháu N1 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu V và cháu C cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Các bên được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở bên bên kia trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Cả chị N và anh Đ hiện nay đều có thu nhập ổn định, không bên nào yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh Đ cùng xác nhận anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Chị N yêu cầu ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56 và khoản 2, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Bích N ly hôn với anh Lê Tấn Đ.
- Về nuôi con chung: Giao cháu cháu Lê Thị Kim N1, sinh ngày 28/8/2016 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Lê Thị Kim V, sinh ngày 24/4/2019 và cháu Lê Tấn C, sinh ngày 21/3/2021 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Các bên được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở bên bên kia trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của các bên về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng nguyên đơn đã tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000257 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị N đã nộp xong.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tuyết Mai |
Bản án số 176/2023/HNGĐ-ST ngày 31/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con
- Số bản án: 176/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về việc xin ly hôn và gairi quyết nuôi con giữa Huỳnh Thị Bích N và Lê Tấn Đ
