|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 176/2024/HS-ST Ngày 31-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương
Ông Hoài Đức Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 68/TB-TA ngày 15/7/2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 79/TB-TA ngày 26/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1998, tại tỉnh Đồng Tháp;
Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện tại: Khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974 và bà Lê Thị H, sinh năm 1974; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/12/2023 sau đó chuyển tạm giam cho tới nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. (Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lương Thị P, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Danh Nhật T, sinh năm 2000; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma tuý. Vào khoảng 16 giờ 40 phút, ngày 25/12/2023 do có nhu cầu kiếm tiền sử dụng cho bản thân nên L nảy sinh ý định mua ma tuý về phân nhỏ bán lại cho các đối tượng nghiện ma tuý. L sử dụng điện thoại hiệu Vivo màu đỏ đen, gắn sim số 0835548834 để liên hệ với một người tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) mua một gói ma tuý với giá 5.000.000 đồng, M đồng ý và giao ma tuý đến nơi ở của L. Sau khi nhận được ma tuý xong L đem phân nhỏ ra để bán kiếm lời. Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, có một người bạn quen biết ngoài xã hội tên là H1 (không rõ họ tên địa chỉ) sử dụng mạng xã hội Z có nick name tên “a.hải???” gọi điện thoại qua Z cho L hỏi mua 300.000 đồng, nhưng do H1 không có tiền nên nói sẽ đưa cho L chiếc điện thoại di động Oppo A3 để đổi lấy ma tuý thì L đồng ý và hẹn đến giao ma tuý ở tiệm gym tên “Thành Gym” thuộc khu phố M, thị trấn H, huyện N, Đồng Nai. Lúc này, có một người bạn tên Danh Nhật T, sinh năm 2000, Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang, có nơi ở hiện nay: Ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai đi bộ đến phòng trọ của L nhờ L chở về phòng trọ của mình. Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày L điều khiển xe máy hiệu Visson, biển kiểm soát 60G1 – 53402 màu xanh, chở theo Danh Nhật T ngồi phía sau. Khi đi L mang theo túi đeo (chéo) màu xanh bên trong có cất giấu toàn bộ ma tuý mà L phân nhỏ từ trước, L lấy một đoạn ống hút màu trắng (sọc đỏ) được hàn kín hai đầu, kích thước 01 x 2,5 cm, bên trong có chứa ma tuý bỏ vào gói thuốc Jet để chuẩn bị bán cho H1. Khi đi đến hẻm A trước cửa phòng tập gym tên Thành G thuộc khu phố M, thị trấn H, huyện N gặp H1, L lấy gói thuốc Jet bên trong có chứa ma tuý bỏ vào hộc xe phía trước bên trái. Lúc này, H1 đi lại đưa cho L chiếc điện thoại Oppo A3 màu đen và L chỉ chỗ cho H1 lấy ma tuý. Sau đó L tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T về phòng trọ của T, khi đang đi trên đường H, trước hẻm chùa P1 thuộc khu phố M, thị trấn H thì bị Công an thị trấn H, huyện N phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Về tang vật thu giữ gồm:
- - 02 gói nylon zip được hàn kín hai đầu bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, kích thước 04 x 08 cm (đã được niêm phong).
- - 01 gói nylon zip được hàn kín hai đầu bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, kích thước 2,5 x 4 cm (đã được niêm phong).
- - 01 Điện thoại hiệu Vivo màu đỏ là tài sản thuộc quyền sở hữu của L sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 Điện thoại hiệu Oppo A3 màu đen (L khai do bán ma tuý mà có)
- - 01 túi đeo chéo màu xanh là tài sản thuộc quyền sở hữu của L sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 cái kéo bằng kim loại và 02 đoạn ống hứt rỗng L sử dụng để phân chia ma tuý.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu xanh đen, biển kiểm soát 60G1-534.02;
2
* Tại Kết luận giám định số 2914/KL-KTHS ngày 31 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng (M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 15,4982 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 15,3448 gam.
- Mẫu tinh thể màu trắng (M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,8167 gam, loại Kethamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,7731 gam.
Tại cáo trạng số 147/CT-VKSNT ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch thay đổi một phần quyết định truy tố. Truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” từ điểm i sang điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 09 năm đến 10 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Viện kiểm sát đề nghị:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ khối lượng ma tuý còn lại sau giám định (được niêm phong số 2914/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 cái kéo bằng kim loại; 02 đoạn ống hút rỗng; 01 túi đeo chéo màu xanh là công cụ dùng để phạm tội.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ đen và 01 điện thoại hiệu Oppo A3 màu đen của L.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án;
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
3
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lương Thị P và người làm chứng anh Danh Nhật T vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra, tuy tố người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai đầy đủ và việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên căn cứ các điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về căn cứ định tội danh và điều luật áp dụng:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 25/12/2023, Nguyễn Văn L mang 01 gói ma tuý có khối lượng 15,4982 gam, loại Methamphetamine và 01 gói ma tuý có khối lượng 0,8167 gam loại ma tuý Ketamine đến hẻm A thuộc khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai để bán thì bị bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 2914/KL-KTHS ngày 31 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng (M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 15,4982 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 15,3448 gam.
- Mẫu tinh thể màu trắng (M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,8167 gam, loại Kethamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,7731 gam.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch có thay đổi một phần nội dung cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội mua bán trái phép chất ma tuý từ điểm i sang điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Sự thay đổi của Viện kiểm sát từ điểm i sang điểm p nhưng vẫn trong khung 2 của Điều 251 Bộ luật hình sự không làm thay đổi khung hình phạt, tội danh, cũng như không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Do đó được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu lợi ích cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng, đồng thời nó cũng là nguyên nhân phát sinh những loại tội phạm khác.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô Vison, hiệu Honda, biển kiểm soát 60G1-534.02 thuộc sở hữu của chị Lương Thị P, chị P cho bị cáo L mượn xe để đi làm và không biết L dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chị P là đúng theo quy định của pháp luật.
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định được chứa trong một gói niêm phong số 2914/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ; 01 cái kéo bằng kim loại; 02 đoạn ống hút rỗng; 01 túi đeo chéo màu xanh là công cụ dùng để phạm tội.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ đen và 01 điện thoại hiệu Oppo A3 màu đen của L.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên M có hành vi bán ma tuý cho L hiện chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với nam thanh niêm tên H1 có tài khoản Zalo tên “a.hải????” là người mua ma tuý của L vào ngày 25/12/2023, do bị cáo L không biết nhân thân, lai lịch và người này đang làm gì ở đâu. Nên cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra và xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật .
Đối với Danh Nhật T là người đi nhờ xe của Nguyễn Văn L vào thời điểm L bị Công an thị trấn H bắt, kiểm tra nhanh phát hiện đối tượng T không sử dụng chất ma tuý. Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được xác định việc L cất giấu và mua bán trái phép chất ma tuý thì T không biết, do đó không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T là đúng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L: 09 (C) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25
5
tháng 12 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định được chứa trong một gói niêm phong số 2914/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của phòng K Công an tỉnh Đ; 01 cái kéo bằng kim loại; 02 đoạn ống hút rỗng; 01 túi đeo chéo màu xanh là công cụ dùng để phạm tội.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ đen và 01 điện thoại hiệu Oppo A3 màu đen của L.
(Số vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/5/2024).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, tđhu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Quốc Hoàn |
6
Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 176/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
