|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 176/2023/HSST Ngày: 30/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Lương Quân;
- Ông Bùi Quang Vinh.
Thư ký phiên tòa:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Ông Đoàn Mạnh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- + Tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Phan Duy Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Kiểm sát viên.
- + Tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Minh Hiệu – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 188/2023/HSST ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an Quận M theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1312/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Hoàng S
Sinh ngày XX tháng YY năm 1972, tại Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số H đường ĐT, phường P, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Sơn Thị M (chết); có vợ Lê Mai T và có một người con sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09 tháng 4 năm 2011, bị Uỷ ban nhân dân Quận M ra quyết định số 2262/QĐ-UBND đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 24 tháng do có hành vi sử dụng chất ma tuý. Đến ngày 21 tháng 4 năm 2013, chấp hành xong về địa phương sau đó bị Uỷ ban nhân dân Quận M ra Quyết định số 421/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý trong thời hạn 12 tháng; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại nhà tạm giữ Công an Quận M. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị U, sinh năm: 1965;
- Địa chỉ: Số B đường TT2, khu phố B, phường TTT, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- - Ông Lý Thanh P, sinh năm: 1974;
- Địa chỉ: Số F đường C, Phường MB, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- - Bà Lê Mai T, sinh năm: 1975;
- Địa chỉ: Số B đường TXS, phường TH, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- - Bà Trần Minh TM, sinh năm: 1987;
- Địa chỉ: Số B đường TXS, phường TH, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thường xuyên chạy xe ôm ở khu vực đường ĐT, phường P, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh thấy có nhiều người đến hỏi mua cần sa sử dụng và do cần tiền để sử dụng ma tuý nên Phạm Hoàng S đã nảy sinh ý định mua cần sa đem về bán hưởng lời để có tiền mua ma tuý loại heroine sử dụng. Thông qua bạn bè quen biết ngoài xã hội, Bị cáo S biết người phụ nữ tên B(chưa rõ nhân thân, lai lịch) trong hẻm M đường Đ, Phường C, Quận T bán cần sa nên Bị cáo S đã tìm đến hỏi mua cần sa của B được 02 lần để đem về bán hưởng lời, cụ thể:
- - Lần thứ nhất, cách thời gian bị bắt khoảng 15 ngày, Bị cáo S đến hẻm M đường Đ, Phường C, Quận T tìm gặp B mua 01 gói cần sa với giá 100.000 đồng rồi đem về khu vực đường ĐT, phường P, Quận M bán cho người khác với giá 150.000 đồng, hưởng lời được 50.000 đồng.
- - Lần thứ hai, khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23 tháng 5 năm 2023, Bị cáo S lại tiếp tục đến địa chỉ trên gặp người phụ nữ tên Bmua 01 gói cần sa với giá 100.000 đồng. Sau đấy, Bị cáo S đem về nhà tại Số H đường ĐT, phường P, Quận M cất giữ đến tối Bị cáo S lấy gói cần sa này ra rồi cầm trên tay phải và điều khiển xe mô tô biển số 52Z8-XXXX đem đến khu vực đường ĐT, Quận M để bán nhưng khi đến trước nhà số H đường P, phường P, Quận M thì bị tổ tuần tra 363 - Công an Quận M (gồm các ông Lê Chí T, Vũ Trường G) thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Khi xuống xe để tổ công tác kiểm tra thì Bị cáo S thả từ tay phải xuống đất 01 gói nylon chứa thảo mộc khô, Bị cáo S khai là ma tuý loại cần sa để bán lại hưởng lời nên tổ tuần tra thu giữ vật chứng rồi đưa Bị cáo S cùng vật chứng về giao Công an phường P, Quận M biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 xử lý theo thẩm quyền. (bút lục 35–36)
Theo bản kết luận giám định số: 5522/KL-KTHS ngày 01 tháng 6 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Thảo mộc khô trong 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Phạm Hoàng S và hình dấu Công an phường P, Quận M bên trong có thảo mộc khô, có khối lượng 0,9826g là ma túy, loại cần sa. (bút lục 33)
Quá trình điều tra, Phạm Hoàng S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của Bị cáo S phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Đối với người phụ nữ tên B bán ma tuý, loại cần sa cho Bị cáo S, qua điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau. (bút lục 37 – 50)
Bản cáo trạng số: 199/CT-VKS-Q1 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo phạm tội khi có nhân thân xấu do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cần có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
- - 01 gói niêm phong ghi vụ số: 5522 (1181)/23 bên trong có 0,9826 gam ma túy, loại cần sa cần tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số: 52Z8-XXXX, số khung: RLHHC090X7Y883XXX, số máy: HC09E6704XXX trả lại bà Lê Mai T.
- - Số tiền 140.000 đồng trả lại bị cáo Bị cáo S.
Tại phiên tòa, bị cáo Bị cáo S thừa nhận đã hai lần mua cần sa của người phụ nữ tên Bkhông rõ nhân thân, lai lịch trong hẻm M đường Đ, Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để bán lại cho người nghiện nhằm mục đích kiếm lời. Bị cáo khẳng định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là không oan sai. Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bà T, bà TR không có ý kiến tranh luận gì cùng thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tường trình, tờ tự khai, biên bản tạm giữ niêm phong ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản xác định địa điểm đối tượng, biên bản xét nghiệm chất ma túy, kết luận giám định,... nên có căn cứ để kết luận: Do cần tiền mua ma tuý sử dụng nên bị cáo Bị cáo S đã tìm gặp người phụ nữ tên Bkhông rõ nhân thân, lai lịch trong hẻm M đường Đ, Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để mua 01 gói ma túy, loại cần sa với giá 100.000 đồng để bán lại hưởng lời thì bị bắt giữ cùng vật chứng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bị cáo S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao. Tội phạm do bị cáo gây ra đã xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền về các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm khác. Bị cáo đủ nhận thức để biết rõ về tác hại của ma túy nhưng vì muốn có tiền để tiêu xài, lại lười lao động nên bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo phạm tội khi có nhân thân xấu do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật nên cần có mức án nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bị cáo S khai nhận cách thời gian bị bắt khoảng 15 ngày (ngày bị bắt ngày 23 tháng 5 năm 2023) Bị cáo S đến tìm gặp B mua 01 gói cần sa với giá 100.000 đồng rồi đem về khu vực đường ĐT, phường P, Quận M bán cho người khác với giá 150.000 đồng, hưởng lời được 50.000 đồng. Xét, ngoài lời khai nhận của bị cáo Bị cáo S không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc bị cáo Bị cáo S thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này của bị cáo là có cơ sở.
[7] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp một khoản tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước.
[8] Đối với người phụ nữ tên B bán cần sa cho bị cáo Bị cáo S, quá trình điều tra chưa truy tìm, xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 tiếp tục xác minh làm rõ có cơ sở xử lý sau.
[9] Vật chứng của vụ án:
- - Đối với 01 gói niêm phong ghi vụ số: 5522 (1181)/23 bên trong có 0,9826 gam ma túy, loại cần sa (mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ công tác giám định) cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số: 52Z8-XXXX, số khung: RLHHC090X7Y883XXX, số máy: HC09E6704XXX thu giữ của bị cáo Bị cáo S. Qua xác minh xe của bà Nguyễn Thị U, sinh năm: 1965, trú tại: B phường TTT, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Quá trình điều tra bà U khai đã mua xe trên vào năm 2007, được cấp biển số 52Z8-XXXX. Đến cuối tháng 10 năm 2022, bà U bán lại xe trên cho ông Lý Thanh P, sinh năm: 1974, trú tại: B đường C, Phường MB, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh và có làm hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng công chứng BN, số B đường L, Phường MB, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P khai làm công việc mua, bán xe mô tô và đã mua xe của bà U đến cuối tháng 11 năm 2022, Ông P đã bán lại xe trên cho bà Lê Mai T, sinh năm: 1975, trú tại: H đường ĐT, phường P, Quận M. Tại phiên tòa bà T, bà TR thống nhất khai (bà T là vợ của bị cáo Bị cáo S) xe mô tô trên là của bà T được em gái bà T là bà Trần Minh TM, sinh năm: 1987, trú tại: B đường TDT, Phường MB, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh cho tiền mua để sử dụng. Do bà T và bị cáo Bị cáo S không còn sống chung từ năm 2018. Đầu năm 2023, do thấy bị cáo Bị cáo S không có việc làm nên bà T đã cho bị cáo Bị cáo S mượn xe để chạy xe ôm, việc bị cáo Bị cáo S sử dụng xe làm phương tiện mua, bán ma túy bà T không biết. bà T mong muốn được nhận lại xe để làm phương tiện đi lại. Xét việc thu giữ xe trên không liên quan đến vụ án cần xem xét trả lại cho bà T là chủ sở hữu.
- - Đối với số tiền 140.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thu giữ là tiền của bị cáo. Xét việc thu giữ số tiền trên không liên quan đến vụ án nên cần trả lại bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Phạm Hoàng S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 5 năm 2023.
- Buộc bị cáo Phạm Hoàng S phải nộp phạt số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.
- Việc bị cáo Phạm Hoàng S nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 5522 (1181)/23 chứa chất ma túy, loại cần sa.
- + Trả lại bà Lê Mai T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số: 52Z8-XXXX, số khung: RLHHC090X7Y883XXX, số máy: HC09E6704933.
- (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 222/2023/PNK-THAHS ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
- + Trả lại bị cáo Phạm Hoàng S số tiền 140.000đ (một trăm bốn mươi nghìn đồng).
- (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 223/2023/PNK-THAHS ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
- - Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 Năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Phạm Hoàng S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Mục I thông tư liên tịch số: 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát – Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính hướng dẫn về việc xét xử và thi hành án về tài sản. Hội đồng xét xử không áp dụng tính lãi suất đối với các khoản tiền buộc nộp lại để sung vào ngân sách nêu trên.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Bị cáo Phạm Hoàng S, bà Lê Mai T, bà Trần Minh TM có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc Tuân |
Bản án số 176/2023/HSST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 176/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
