Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 176/2024/HS-ST

Ngày: 27/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trương Thị Thu Cúc;
  2. Ông Trương Ngọc Điệp.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phương Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Long Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 149/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Võ Kim N (T), sinh năm 1984, tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B, Khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H và bà Đặng Thị Thiên H1; có 01 con; tiền án: Ngày 20/11/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án hình sự sơ thẩm số 227/2017/HSST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/10/2005, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án hình sự sơ thẩm số 141/2005/HSST. Ngày 10/8/2009, bị Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời hạn là 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 07/9/2012, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời hạn là 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 02/10/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trốn khỏi cơ sở cai nghiện ngày 20/9/2016; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2023 cho đến nay; có mặt.

2. Trần Thanh S, sinh năm 1991, tại tỉnh Bình Phước; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Nhà không số, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q (chết) và bà Nguyễn Thị P; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Nhân thân: Ngày 26/6/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án hình sự sơ thẩm số 103/2009/HSST. Ngày 11/3/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án hình sự sơ thẩm số 61/2011/HSST. Ngày 22/01/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án hình sự sơ thẩm số 20/2015/HSST. Ngày 19/01/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định đưa đối tượng ma túy vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn là 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 26/5/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 20 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 16/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2023 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Võ Kim N và Trần Thanh S quen biết nhau do cùng sử dụng ma túy.

Khoảng 04 giờ ngày 12/7/2023, N nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng (trước khi đi, N lấy 02 túi nylon miệng kéo dính có chứa ma túy đá đã mua trước đó bỏ vào 01 cái túi đeo chéo màu đen) nên N điều khiển xe mô tô hiệu Honda MSX, màu vàng, biển số 60X4-8739 chạy đến khu vực bãi đất trống ở địa bàn xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tìm đối tượng nam thanh niên tên “Ròm” (hiện chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Khi đến nơi, N sử dụng điện thoại di động hiệu S2 A52, màu xanh dương số thuê bao 0898.898.906 gọi cho R qua số thuê bao 0784.625.836 nhưng không liên lạc được. Sau đó, N điều khiển xe mô tô chạy đến quán cà phê ở cách đó khoảng 02 km uống cà phê để chờ Ròm. Khoảng 06 giờ cùng ngày, N gọi lại cho R và hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy đá và 3.000.000 đồng heroin; R đồng ý và kêu N đến khu vực bãi đất trống để nhận ma túy. Khoảng 30 phút sau, N điều khiển xe mô tô chạy đến điểm hẹn gặp R rồi đưa cho R số tiền 4.500.000 đồng và nhận lại 01 túi nylon chứa ma túy đá và 01 túi nylon chứa heroin. Sau đó, N điều khiển xe chạy về đến khu vực phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương để ăn sáng.

Khoảng 08 giờ cùng ngày, S gọi điện thoại cho N để xin ma túy sử dụng. N đồng ý và chạy đến nhà của S tại khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại đây, N đưa cho S 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín bên trong chứa ma túy loại heroin. S lấy ma túy rồi đi ra phía sau nhà pha với nước cất rồi dùng ống tiêm tiêm vào cơ thể. Lúc này, N cũng lấy ma túy heroin ra sử dụng bằng cách hít trực tiếp. Sau khi chích ma túy xong, S ra trước nhà thì N hỏi S có sử dụng thêm ma túy đá không thì S đồng ý. N đưa cho S 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 bình thủy tinh, 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có một đầu hình bầu dục) và 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá. Sau đó, S lấy một ít ma túy đá bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi dùng bật lửa đốt nóng rồi đưa cho N sử dụng trước. Ngân hút một hơi rồi đưa lại cho S sử dụng. Sau khi cả hai sử dụng ma túy xong, S nằm trên sàn nhà bấm điện thoại. N lấy ma túy loại heroin đổ lên dĩa sứ đặt trên nền nhà để phân chia thành nhiều phần nhỏ rồi bỏ vào nhiều đoạn ống hút cắt ngắn và hàn kín lại. S nhìn thấy N phân chia ma túy nhưng không nói gì. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Công an phường C kiểm tra hành chính căn nhà của S thì phát hiện N đang có hành vi phân chia ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ số vật chứng, gồm:

  • - 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa 62 đoạn ống hút nhựa nhiều màu hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất màu trắng và tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, đã được niêm phong theo quy định), gồm: 08 đoạn ống hút nhựa màu đỏ hàn kín chứa chất màu trắng (M1-1a); 08 đoạn ống hút nhựa màu đỏ hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M1-1b); 13 đoạn ống hút nhựa màu xanh dương hàn kín chứa chất màu trắng (M1-2a); 05 đoạn ống hút nhựa màu xanh dương hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M1-2b); 24 đoạn ống hút nhựa màu xanh lá hàn kín chứa chất màu trắng (M1-3a); 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh lá hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M1-3b); 01 đoạn ống hút nhựa màu cam hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M1-4); 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M1-5).
  • - 01 túi nylon miệng kéo dính hở một đầu chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2, đã được niêm phong theo quy định).
  • - 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3, đã được niêm phong theo quy định);
  • - 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng (ký hiệu M4, đã được niêm phong theo quy định);
  • - 01 điện thoại di động hiệu S2 A52, màu xanh dương, gắn sim số thuê bao 0898.898.906 (thu giữ của Võ Kim N).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, gắn sim số 0933.203.093 (thu giữ của Trần Thanh S).
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình thủy tinh, 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có đầu hình bầu dục.
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda MSX, màu vàng, biển số 60X4-8739.
  • - 01 cây kim loại dẹp một đầu để hàn kín ống hút đựng ma túy; 01 lưỡi dao cắt giấy; 01 kéo cắt chỉ; 01 kéo bằng kim loại; 01 cân tiểu ly; 03 túi nylon miệng kéo dính bên trong không có gì; 02 ống kim tiêm; 06 đoạn ống hút dài khoảng 10 cm; 01 dĩa sứ màu trắng; 01 túi đeo chéo màu đen.

Căn cứ Kết luận giám định số 419/KL-KTHS(MT) ngày 20/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  • - Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,2259 gam (M1-1b); 0,1328 gam (M1-2b); 0,0781 gam (M1-3b); 0,0258 gam (M1-4); 0,0326 gam (M1-5); 0,3736 gam (M2); 4,9871 gam (M3). Tổng khối lượng là 5,8559 gam.
  • - Các mẫu chất màu trắng gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 1,6979 gam (M1-1a); 1,5218 gam (M1-2a); 2,1520 gam (M1-3a); 11,7491 gam (M4). Tổng khối lượng là 17,1208 gam.

- Về xử lý vật chứng:

+Đối với khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định là: 0,1479 gam (M1-1b); 0,1167 gam (M1-2b); 0,0615 gam (M1-3b); 0,0142 gam (M1-4); 0,238 gam (M1-5); 0,3461 gam (M2); 4,8793 gam (M3) loại Methamphetamine và 1,5521 gam (M1-1a); 1,4599 gam (M1-2a); 2,0160 gam (M1-3a); 11,5788 gam (M4) loại Heroine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 bình thủy tinh, 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có đầu hình bầu dục); 01 cây kim loại dẹp một đầu để hàn kín ống hút đựng ma túy; 01 lưỡi dao cắt giấy; 01 kéo cắt chỉ; 01 kéo bằng kim loại; 03 túi nylon miệng kéo dính bên trong không có gì; 02 ống kim tiêm; 06 đoạn ống hút dài khoảng 10 cm; 01 dĩa sứ màu trắng, 01 cân tiểu ly và 01 túi đeo chéo màu đen, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, tiêu hủy.

+Đối với 01 điện thoại di động hiệu S2 A52, màu xanh dương, gắn sim số thuê bao 0898.898.906 (thu giữ của Võ Kim N) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, gắn sim số 0933.203.093 (thu giữ của Trần Thanh S), Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xử lý theo quy định pháp luật.

+Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda MSX, màu vàng, biển số 60X4-8739, số máy RRSFS152FMJ*0000054*, không có số khung (đã bị đục, sửa), quá trình điều tra, xác minh xác định xe mô tô hiệu Honda MSX, màu vàng, biển số 60X4-8739, số máy RRSFS152FMJ*0000054* do bà Lê Thị Kim S1, sinh năm 1963, thường trú tại thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Qua xác minh xác định hiện bà S1 không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Qua làm việc, Võ Kim N khai xe mô tô trên do N mượn của người bạn ngoài xã hội, không rõ tên nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục giữ lại để xác minh và xử lý sau theo quy định pháp luật.

+ Đối với đối tượng R là người đã bán ma túy cho Võ Kim N, quá trình điều tra N khai không biết rõ nhân thân, lai lịch của người này, còn số điện thoại 0784.625.xxx, qua xác minh xác định số điện thoại trên là của ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1977, cư trú tại khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Qua xác minh xác định hiện ông Đ không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý khi có đủ căn cứ.

-Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Cáo trạng số 150/CT-VKSTDM ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Võ Kim N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm a, h khoản 2 Điều 255 và các điểm n, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Thanh S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

+ Áp dụng các điểm a, h khoản 2 Điều 255; điểm n, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Kim N mức hình phạt từ 8 năm đến 9 năm tù đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và từ 7 năm đến 8 năm tù tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp mức hình phạt cả hai tội từ 15 năm đến 17 năm tù.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh S mức hình phạt mức hình phạt từ 02 năm 6 tháng đến 3 năm tù đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và 5 năm đến 6 năm tù tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp mức hình phạt cả hai tội từ 7 năm 6 tháng đến 9 năm tù.

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy: 0,1479 gam (M1-1b); 0,1167 gam (M1-2b); 0,0615 gam (M1-3b); 0,0142 gam (M1-4); 0,238 gam (M1-5); 0,3461 gam (M2); 4,8793 gam (M3) loại Methamphetamine và 1,5521 gam (M1-1a); 1,4599 gam (M1-2a); 2,0160 gam (M1-3a); 11,5788 gam (M4) loại Heroine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 bình thủy tinh, 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có đầu hình bầu dục); 01 cây kim loại dẹp một đầu để hàn kín ống hút đựng ma túy; 01 lưỡi dao cắt giấy; 01 kéo cắt chỉ; 01 kéo bằng kim loại; 03 túi nylon miệng kéo dính bên trong không có gì; 02 ống kim tiêm; 06 đoạn ống hút dài khoảng 10 cm; 01 dĩa sứ màu trắng và 01 túi đeo chéo màu đen; 01 cân tiểu ly.

+ Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52, màu xanh dương, gắn sim số thuê bao 0898.898.906 cho bị cáo Võ Kim N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, gắn sim số 0933.203.093 cho bị cáo Trần Thanh S.

+Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda MSX, màu vàng, biển số 60X4-8739, Công an thành phố T tiếp tục giữ lại để xác minh và xử lý sau theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo N không nói lời nói sau cùng.

Bị cáo S biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Kim N và Trần Thanh S đã khai nhận: Khoảng 8 giờ ngày 12/7/2024, tại nhà bị cáo S, bị cáo S đã có hành vi cho phép bị cáo N sử dụng ma túy và phân chia nhỏ số ma túy mà N đã tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo N có hành vi cung cấp ma túy loại heroine và ma túy loại methamphetamine kèm 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho bị cáo S sử dụng và phân chia ma túy ra thành từng tép để cất giấu sử dụng. Số ma túy thu được là 5,8559 gam ma túy loại methamphetamine và 17,1208 gam ma túy loại heroin. Bị cáo N có 1 tiền án về tội rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội rất nghiêm trọng do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm a khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Võ Kim N phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, h khoản 2 Điều 255 và các điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Thanh S phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, các bị cáo N và S biết việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn làm phát sinh các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Xét đề nghị của kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định là: 0,1479 gam (M1-1b); 0,1167 gam (M1-2b); 0,0615 gam (M1-3b); 0,0142 gam (M1-4); 0,238 gam (M1-5); 0,3461 gam (M2); 4,8793 gam (M3) loại Methamphetamine và 1,5521 gam (M1-1a); 1,4599 gam (M1-2a); 2,0160 gam (M1-3a); 11,5788 gam (M4) loại Heroine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 bình thủy tinh, 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có đầu hình bầu dục); 01 cây kim loại dẹp một đầu để hàn kín ống hút đựng ma túy; 01 lưỡi dao cắt giấy; 01 kéo cắt chỉ; 01 kéo bằng kim loại; 03 túi nylon miệng kéo dính bên trong không có gì; 02 ống kim tiêm; 06 đoạn ống hút dài khoảng 10 cm; 01 dĩa sứ màu trắng và 01 túi đeo chéo màu đen; 01 cân tiểu ly là công cụ Võ Kim N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, là những vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 8] Những tài sản liên quan đến vụ án:

-Đối với 01 điện thoại di động hiệu S2 A52, màu xanh dương, gắn sim số thuê bao 0898.898.906 là tài sản cá nhân của bị cáo N nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Võ Kim N.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, gắn sim số 0933.203.093 là tài sản cá nhân của bị cáo S nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Trần Thanh S.

-Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda MSX, màu vàng, biển số 60X4-8739, số máy RRSFS152FMJ* 0000054*, không có số khung (đã bị đục, sửa), quá trình điều tra, xác minh xác định xe mô tô hiệu Honda MSX, màu vàng, biển số 60X4- 8739, số máy RRSFS152FMJ*0000054* do bà Lê Thị Kim S1, sinh năm 1963, thuờng trú tại thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Qua xác minh xác định hiện bà S1 không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Quá trình điều tra, Võ Kim N khai xe mô tô trên do N mượn của người bạn ngoài xã hội, không rõ tên nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục giữ lại để xử lý sau theo quy định pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 260, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Kim N và bị cáo Trần Thanh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1.1 Áp dụng điểm a, h khoản 2 Điều 255; điểm n, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Kim N 9 (chín) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và 7 (bảy) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội bị cáo phải chấp hành là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/7/2023.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh S 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và 6 (sáu) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội bị cáo phải chấp hành là 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/7/2023.

2. Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,1479 gam (M1-1b); 0,1167 gam (M1-2b); 0,0615 gam (M1-3b); 0,0142 gam (M1-4); 0,238 gam (M1-5); 0,3461 gam (M2); 4,8793 gam (M3) loại Methamphetamine và 1,5521 gam (M1-1a); 1,4599 gam (M1-2a); 2,0160 gam (M1-3a); 11,5788 gam (M4) loại Heroine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 bình thủy tinh, 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có đầu hình bầu dục); 01 cây kim loại dẹp một đầu để hàn kín ống hút đựng ma túy; 01 lưỡi dao cắt giấy; 01 kéo cắt chỉ; 01 kéo bằng kim loại; 03 túi nylon miệng kéo dính bên trong không có gì; 02 ống kim tiêm; 06 đoạn ống hút dài khoảng 10 cm; 01 dĩa sứ màu trắng và 01 túi đeo chéo màu đen; 01 cân tiểu ly.

- Trả lại cho bị cáo Võ Kim N 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52, màu xanh dương, có sim ở bên trong nhưng không kiểm tra được số thuê bao và số Seri do không mở máy lên được (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

- Trả lại cho bị cáo Trần Thanh S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, màn hình bị bể, có sim ở bên trong nhưng không kiểm tra được số thuê bao do không mở máy lên được (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 090.24 ngày 18/3/2024 và số 133.24 ngày 25/6/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố T).

3. Về án phí: Các bị cáo Võ Kim N và Trần Thanh S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Công an thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Nhật Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 176/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Kim N và bị cáo Trần Thanh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger