|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 176/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2024 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Loan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Triều;
- Ông Nguyễn Thành Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (số B đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2561/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Cao Thị Ngọc T, sinh năm 1979
Địa chỉ: số H đường H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1), sinh năm 1952
Địa chỉ: số B Lanai A Sanjose CA 95122, USA
(Các đương sự đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/02/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn – bà Cao Thị Ngọc T trình bày:
Năm 2015, bà Cao Thị Ngọc T và ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) tự nguyện kết hôn và đăng ký tại Ủy ban nhân dân Thành phố H (vào sổ đăng ký kết hôn số 248, Quyển số 02 ngày 29/01/2015).
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó cả hai bất đồng quan điểm do vợ chồng không chọn được nơi sinh sống; tháng 8/2020, ông V1 trở về Hoa Kỳ sống và làm việc nên mỗi người ở một nơi, khi phát sinh mâu thuẫn thì không giải quyết kịp thời làm cho cả hai không còn tiếng nói chung, mặc dù đã nỗ lực hàn gắn nhưng không có kết quả, hiện nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa.
Bà T cho rằng không thể tiếp tục đời sống vợ chồng với ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Cả hai có 01 con chung tên Ngô Cao H, giới tính: Nam, sinh ngày 21/6/2009. Hiện nay con chung đang ở cùng với cha nên bà đồng ý giao con cho ông V1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; vấn đề cấp dưỡng nuôi con, bà T và ông V1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Bản tự khai đề ngày 10/4/2024 (đã được Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa X tại S, Hoa Kỳ chứng nhận lãnh sự ngày 10/4/2024), bị đơn – ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) trình bày:
Năm 2015, bà Cao Thị Ngọc T và ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) tự nguyện kết hôn và đăng ký tại Ủy ban nhân dân Thành phố H (vào sổ đăng ký kết hôn số 248, Quyển số 02 ngày 29/01/2015).
Sau khi kết hôn, ông trở về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc, bà T ở lại Việt Nam, hiện nay mỗi người đã có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau nữa.
Ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.
Về con chung: Ông Ngô Văn V1 và bà Cao Thị Ngọc T có 01 con chung tên Ngô Cao H, giới tính: Nam, sinh ngày 21/6/2009, hiện nay con chung đang ở với cha nên ông V1 yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung; về vấn đề cấp dưỡng, ông V1 và bà T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Cao Thị Ngọc T và ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có nơi cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn có nơi cư trú tại Hoa Kỳ nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình tố tụng, sau khi cung cấp lời khai và trình bày ý kiến, nguyên đơn – bà Cao Thị Ngọc T và bị đơn – ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án đồng thời phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.
[2]. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn (vào sổ đăng ký kết hôn số 248, Quyển số 02) do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 27/01/2015 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Cao Thị Ngọc T và ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn - bà Cao Thị Ngọc T và bị đơn - ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) thì sau khi kết hôn vợ chồng không chung sống với nhau, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã nỗ lực hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện bà T và ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) mỗi người đang sinh sống và làm việc ở hai đất nước khác nhau nên khó có khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả bà T và ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) đều đồng ý ly hôn để ổn định cuộc sống riêng. Xét thấy cuộc sống chung giữa bà T và ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) không thể kéo dài, việc ly hôn là cần thiết, là nguyện vọng chính đáng đồng thời phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Cao Thị Ngọc T và ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) có 01 con chung tên Ngô Cao H, giới tính N, sinh ngày 21/6/2009. Trong quá trình tố tụng, ông V1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và bà T cũng đồng ý giao con chung cho ông V1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con do ông V1 chưa có yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Cao Thị Ngọc T và ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Nguyên đơn – bà Cao Thị Ngọc T phải chịu án phí sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – bà Cao Thị Ngọc T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Ngọc T được ly hôn với ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1).
- Về con chung: Giao trẻ Ngô Cao H sinh ngày 21/6/2009 cho ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà Cao Thị Ngọc T do ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) chưa có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của C, Mẹ hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Cao Thị Ngọc T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0031784 ngày 30/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T không phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bà Cao Thị Ngọc T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Ông Ngo Vong V (Ngô Văn V1) được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Bích Loan |
Bản án số 176/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 176/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Ngọc Tr
