Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2023/HS-ST

Ngày 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 161/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 695/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 19 tháng 3 năm 1994, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số D P, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Y (đều đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Án số 164/2017/HSST ngày 29/9/2017 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án); bị bắt, tạm giữ ngày 30/3/2023, tạm giam ngày 08/4/2023; có mặt.
  2. Ngô Minh Đ, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1993, tại Quảng Ninh. ĐKHKTT: Khu F phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện tại: Số B D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đình Đ1 (đã chết) và bà Lê Thị H; bị cáo chưa vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 30/3/2023, tạm giam ngày 08/4/2023; có mặt.
  3. Đào Văn B1, sinh ngày 18 tháng 3 năm 1982, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Số A T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số C V, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn L và bà Nguyễn Thị O; bị cáo có vợ Trần Thị H1 và 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Án số 54/HSST ngày 29/3/2002 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; nhân thân: Án số 127/2018/HS-ST ngày 02/10/2018 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án); bị bắt, tạm giữ ngày 30/3/2023, tạm giam ngày 08/4/2023; có mặt.
  4. Vũ Văn Đ2, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1983, tại Hải Dương. ĐKHKTT: Số B B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Phòng 7 nhà trọ số A ngõ B V, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Tự H2 và bà Đinh Thị B2; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, Không; bị bắt, tạm giữ ngày 30/3/2023, tạm giam ngày 08/4/2023; có mặt.
  5. Nguyễn Thành T1, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1981, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B C phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Không nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy M và bà Dương Thị X; bị cáo có vợ Phạm Thị Bích D và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Án số 36/2006/HSST ngày 15/02/2006 Tòa án nhân thành phố Hải Phòng xử 3 năm tù tội Cướp tài sản; Án số 65/2010/HSST ngày 09/6/2010 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 42 tháng tù tội Cướp giật tài sản; Án số 121/2017/HSST ngày 25/8/2017 Tòa án nhân quận L, Hải Phòng xử 42 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án) ; bị bắt, tạm giữ ngày 19/8/2023, tạm giam ngày 25/8/2023; có mặt.

- Bị hại:

  • Chị Đào Thị V, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Số A lô C X, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  • Anh Đặng Thế A, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số C tập thể A35 Công nhân Xi Măng, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Bùi Văn K, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Số B gác C, Lô F X, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  • Anh Lê Minh T2, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Số F Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  • Anh Vũ Mạnh Q, sinh năm 1981. Nơi cư trú: H, huyện C, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn Đ2 thuê phòng trọ ở nhà số G V, phường N, quận L, Hải Phòng để ở một mình từ ngày 23/3/2023. Trong thời gian Đ2 ở đây thỉnh thoảng có T1, T, Đ đến xin cho ở nhờ. Đào Văn B1 nhà cũng ở gần phòng trọ của Đ2 nên cũng hay qua chơi cùng. Trong các ngày 27 và 28/3/2023, T, Đ, B1, Đ2, và T1 đã thực hiện các hành vi Trộm cắp tài sản; Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:

Vụ thứ 1:

Khoảng 03 giờ ngày 27/3/2023, Nguyễn Văn T, Ngô Minh Đ và Đào Văn B1 gặp nhau tại phòng trọ của Vũ Văn Đ2. Tại đây, T rủ Đ và B1 đi lang thang tìm kiếm ai sơ hở để trộm cắp tài sản. T điều khiển xe máy Airblade BKS: 15B3-620.14 của Đ chở B1 ngồi giữa và Đ ngồi sau cùng đi đến khu tập thể L phường L, quận L, Hải Phòng thì thấy 01 chiếc xe máy Wave màu xanh tím than không đeo biển số của chị Đào Thị V, sinh năm: 1972, nơi cư trú: 15B Lô 3 A34 Xi Măng, phường L, quận L, Hải Phòng dựng ở gầm cầu thang. T, Đ, B1 bảo nhau lấy trộm chiếc xe trên. Đ xuống kiểm tra thấy chiếc xe máy trên được khóa bằng dây cáp ở bánh sau nên T, B1, Đ đi về nhà Đ2 lấy 01 kìm cộng lực rồi quay lại, Đ cầm kìm cộng lực xuống cắt dây cáp; còn T, B1 ngồi trên xe máy ở ngoài cảnh giới. Đ cắt dây cáp xong thì dắt xe ra ngoài và ngồi lên yên xe, còn T và B1 đi xe Airblade đẩy phía sau, cả ba mang xe về phòng trọ của Đ2 cất giấu. Sáng sớm hôm sau, Đ2 thấy có chiếc xe trên tại phòng trọ của mình, Đ2 hỏi thì T nói đêm qua mới lấy trộm được, Đ2 không ý kiến gì và vẫn cho để chiếc xe tại phòng trọ. Sáng ngày 28/3/2023, B1, Đ, T thống nhất cho B1 sử dụng chiếc xe trên và B1 phải trả cho Đ, T số tiền là 1.000.000 đồng, tuy nhiên đến khi bị bắt B1 vẫn chưa trả số tiền trên cho Đ và T.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 30/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh tím than, không đeo biển kiểm soát có số khung: JC52E4276735, số máy: RLHJC5213CY195550. Giá trị được định giá là: 3.500.000 đồng.

Vụ thứ 2:

Khoảng 20 giờ ngày 27/3/2023, Đ điều khiển xe máy Airblade màu đỏ trắng BKS 15B3-620.14 đến nhà trọ của Đại chơi. T hỏi mượn xe của Đ rồi chở Đ2 ra ngoài, còn T1 và Đ ở nhà. T chở Đ2 di chuyển các tuyến phố xem nhà ai có tài sản sơ hở sẽ trộm cắp. Khi đi đến trước cửa nhà dân trên đường T, phường V, quận L, Hải Phòng thấy có 01 xe đạp điện dựng trước cửa, T bảo Đ2 đứng trông xe máy để T vào lấy trộm thì Đ2 nói còn sớm không lấy được nên T và Đ2 chở nhau đi về phòng trọ ngủ.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28/3/2023 khi Đ2, Đ đang ngủ thì T rủ T1 đi “lượn” (ý là đi trộm cắp tài sản), T1 đồng ý đi cùng. Khi T dắt xe Airblade của Đ ra đến cửa thì Đ tỉnh dậy muốn tham gia nên T1 ở nhà không đi nữa. Trước khi đi T bảo Đ cầm theo 01 gọng gà để phá khóa, sau đó T chở Đ đi lang thang nhiều tuyến phố, khi đến nhà anh Đặng Thế A, sinh năm: 1988, tại số C tập thể A35 Công nhân X, phường L, quận L, Hải Phòng thấy trong sân có dựng 01 xe đạp điện, 01 xe máy và mấy cái lồng chim thì T và Đức định phá khóa cổng vào trộm cắp nhưng do gọng gà to quá nên T và Đ quay về phòng trọ của Đ2 lấy gọng gà khác, rồi quay lại dừng xe cách cửa nhà khoảng 10m. T đứng ngoài cảnh giới cho Đ phá khóa cổng vào trong sân lấy trộm tài sản. T và Đ đã lấy được tài sản 03 lần cụ thể:

  • - Lần 1: Đ mở cổng vào dắt 01 xe đạp điện bê lên yên xe máy, Đ ngồi sau giữ để T chở về phòng trọ rồi Đ mang xe đưa cho T1 cất vào trong nhà.
  • - Lần 2: Đ xách 04 lồng chim (02 lồng tre chứa mỗi lồng 01 chim khuyên, 02 lồng inox chứa mỗi lồng 01 chim sơn ca), Đ ngồi sau xách 04 lồng chim để T chở về phòng trọ rồi Đ đưa cho T1 cất vào trong nhà.
  • - Lần 3: Đ bê 02 lồng chim rỗng bằng tre đặt lên xe của T rồi dắt xe nhãn hiệu Siri màu đen biển số 15AA-290.47 (là xe của anh Bùi Văn K, sinh năm: 1986, nơi cư trú: Số B G, Lô F X, phường L, quận L, Hải Phòng cho anh Thế A mượn) ra, sau đó Đ điều khiển xe 15AA-290.47 còn T đi xe Airblade đẩy phía sau, cả hai mang xe và 02 lồng chim về phòng trọ của Đ2 cất giấu.

Khi đem hết tài sản vừa lấy được cất vào trong nhà của Đ2, lúc này Đ2 vẫn đang ngủ. Mấy phút sau, Đ2 ngủ dậy hỏi “Chim với xe ở đâu đấy”, T nói “Đồ vừa phang (ý là trộm cắp) được, em để nhờ đây sáng mai em mang đi bán” thì Đ2 không nói gì nữa và cả bốn người Đại, T, T1, Đ đi ngủ.

Đến khoảng 08 giờ ngày 28/3/2023, B1 đến nhà Đại chơi thì thấy có nhiều xe và chim thì hỏi chim ở đâu ra, T nói mới phang được (ý là trộm cắp được) và nhờ B1 đem chim đi bán. B1 đồng ý rồi đem 04 lồng chứa 04 con chim đến cửa hàng 433 Hoàng Minh T3 bán cho chủ cửa hàng là anh Lê Minh T2, sinh năm 1990, nơi cư trú: C Miếu H, phường D, quận L, Hải Phòng được 1.300.000 đồng. B1 mang về đưa T 800.000 đồng, giữ lại 500.000 đồng. T trả công thêm cho B1 200.000 đồng, số tiền 600.000 đồng còn lại T để trên mặt bàn trong phòng trọ để cả nhóm cùng ăn tiêu. Sau đó, B1 tiếp tục mang 02 chiếc lồng rỗng để đi bán được 100.000 đồng.

Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/3/2023, T chưa biết bán chiếc xe đạp điện ở đâu thì T1 có gợi ý liên lạc với anh Vũ Mạnh Q, sinh năm: 1981, nơi cư trú: H, Cát H3, Hải Phòng là chủ cửa hàng mua bán điện thoại số A L, N, Hải Phòng. T gọi cho Q nói là có chiếc xe đạp điện muốn bán. Anh Q đang có nhu cầu mua xe nên bảo T gửi cho xem hình ảnh của xe. Sau khi xem xong anh Q bảo T mang xe đến cửa hàng điện thoại của anh Q tại số A L, quận N, Hải Phòng để xem cụ thể. T dắt xe đạp điện trộm cắp được từ phòng trọ của Đ2 ra ngoài rồi dùng tay đấu 02 sợi dây điện bên trong ổ khoá thì xe mở được điện. T đấu điện xong rủ Đ đi bán xe cùng nhưng Đ kêu mệt không đi. T1 thấy Đ không đi thì nói với T là để T1 đi bán xe cùng. Sau đó T điều khiển xe đạp điện còn T1 điều khiển xe Airbalde BKS 15B3-620.14 đến gặp và bán xe đạp điện cho anh Q được 3.000.000 đồng. Do cần tiền nên T còn bán luôn cho anh Q chiếc điện thoại Sam Sung S9 màu xanh của T được 2.000.000 đồng. Khi bán xe T không nói cho anh Q biết xe do trộm cắp mà có.

Sau khi bán xe và điện thoại xong, T1 điều khiển xe Airbalde chở T đi mua cơm trưa cho cả nhóm hết 120.000 đồng rồi về phòng trọ của Đ2. Số tiền bán được xe T giữ lại 1.500.000 đồng, chia cho Đ 1.380.000 đồng do đã tiêu 120.000 đồng tiền cơm mua cho mọi người. Đ bỏ ra 1.000.000 đồng để trả tiền thuê trọ.

Chiều ngày 28/3/2023 T tháo biển số 15AA-290.97 lấy trộm được vất vào gầm giường để tránh bị phát hiện thì bị lực lượng Công an kiểm tra và triệu tập về Cơ quan Công an làm việc. Quá trình kiểm tra, tại phòng trọ thu giữ tại phòng trọ 01 xe mô tô nhãn hiệu DK Siri, 01 Biển kiểm soát 15AA-290.97, 01 gọng gà kim loại, 01 ổ khóa kim loại màu vàng, 01 ổ khóa kim loại màu đen.

Theo Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 30/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu DK, loại Siri, đã qua sử dụng, màu đen, không đeo BKS, có số khung: RRWGCBRLSMS000942, số máy: VZS139FMB89000986. Giá trị được định giá là 9.460.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: 01 xe đạp điện đã qua sử dụng nhãn hiệu Wuyang màu đen. Giá trị được định giá là 7.300.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: 02 lồng chim đã qua sử dụng, bằng inox hình trụ trị giá 602.000 đồng; 04 lồng chim đã qua sử dụng, bằng tre hình trụ trị giá 1.000.000 đồng; 02 con chim sơn ca trị giá 320.000 đồng; 02 con chim khuyên trị giá 260.000 đồng.

Quá trình điều tra, anh Vũ Mạnh Q giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe đạp điện màu đen mua của Nguyễn Văn T ngày 28/3/82023; anh Lê Minh T2 giao nộp cho Cơ quan điều tra 04 lồng chim, 04 con chim mua của Đào Văn B1 ngày 28/3/2023; Đào Văn B1 giao nộp 01 xe máy Wave S màu xanh tím than và 02 lồng chim. Anh T2 và anh Q không yêu cầu bồi thường số tiền đã bỏ ra để mua số tài sản trên.

Bị hại chị Đào Thị V và anh Đặng Thế A xác nhận đã bị mất các tài sản như trên. Hiện anh Thế A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Quá trình điều tra, Đào Văn B1 khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngày 28/3/2023, khi T nói với B1 là xe và chim trong phòng trọ là đồ mới phang được thì B1 hiểu là đồ do T trộm cắp được. Sau đó, B1 đồng ý đem chim đi bán hộ như nội dung nêu trên. B1 không biết, không hứa hẹn gì đối với việc T và Đ đi trộm cắp.

Vũ Văn Đ2 khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngày 27/3/2023 và 28/3/2023, Đ2 không biết và không được bàn bạc gì trước về việc các đối tượng khác đi trộm cắp. Đ2 thấy ở phòng trọ có xuất hiện chiếc xe Honda Wave và nghe các đối tượng nói chuyện với nhau về chiếc xe, lúc đó Đ2 mới biết việc chiếc xe trên do T, Đ và B1 đi lấy trộm được. Tối ngày 27/3/2023, T có điều khiển xe máy chở Đ2 đi chơi . Khi đi đến trước cửa nhà dân trên đường T, phường V, quận L, Hải Phòng thấy trước cửa nhà dựng 01 xe đạp điện, T bảo Đ2 đứng trông xe máy để T vào lấy trộm thì Đ2 thấy còn sớm, nguy hiểm. Bên cạnh đó, bản thân chưa đi trộm cắp bao giờ nên Đại sợ, can ngăn và bảo T về. Sau khi về phòng, Đ2 đi ngủ, không biết việc T lại tiếp tục đi trộm cắp. Sáng sớm ngày 28/3/2023, khi tỉnh dậy Đ2 thấy trong phòng có nhiều đồ đạc nên đã hỏi T. T nói “Đồ vừa phang được” thì lúc đó Đ2 mới biết các đồ trên do các đối tượng trộm cắp mà có.

Đối với Nguyễn Thành T1, ngày 26/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định khởi tố bị can nhưng không triệu tập được, xác minh tại chính quyền địa phương không rõ đi đâu, làm gì. Ngày 26/6/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã bị can số 05 đối với T1. Ngày 27/6/2023, Cơ quan điều tra ban hành Kết luận điều tra đề nghị truy tố đối với Nguyễn Văn T, Ngô Minh Đ, Vũ Văn Đ2 và Đào Văn B1, chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát. Đối với Nguyễn Thành T1, Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra. Ngày 27/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân ban hành Cáo trạng số 116 và chuyển hồ sơ truy tố đến Tòa án nhân dân quận Lê Chân. Ngày 08/8/2023, hết thời hạn điều tra, chưa bắt được bị can T1 nên Cơ quan điều tra ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án số 01, tạm đình chỉ điều tra bị can số 04 đối với Nguyễn Thành T1. Ngày 17/8/2023, bắt được bị can T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can đối với T1.

Ngày 29/8/2023, Tòa án nhân dân quận Lê Chân ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Ngày 30/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra Công an quận L.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành T1 khai nhận hành vi phạm tội như trên. T1 biết chiếc xe đạp điện là do T và Đ trộm cắp mà có, tuy nhiên, khi T chưa biết nên bán xe ở đâu thì T1 gợi ý cho T gọi cho Q để bán. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô đi cùng T đến gặp Q để bán xe rồi chở T về.

Về vật chứng: 01 xe máy nhãn hiệu DK loại Siri màu đen (xe loại 50CC) và 01 BKS 15AA-290.97 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Văn K. 01 xe đạp điện màu đen, 06 lồng chim, 04 con chim trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đặng Thế A. Đối với chiếc xe máy Honda Wave, màu xanh tím than của chị Đào Thị V, hiện nay chưa xác định được rõ nguồn gốc xe và chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhập kho vật chứng xử lý sau. Chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân 01 gọng gà bằng kim loại, 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng, 01 ổ khóa bằng kim loại màu đen .

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Minh T2 không yêu cầu bị cáo B1 bồi thường số tiền 1.300.000 đồng đã mua 04 lồng chim và 04 con chim của bị cáo B1. Anh Vũ Mạnh Q không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 3.000.000 đồng đã mua 01 xe đạp điện màu đen của bị cáo T.

Đối với Lê Minh T2, khi mua 04 lồng chim do Phạm Văn B3 mang đến bán không biết là tài sản do người khác phạm tội mà có, B3 cũng không nói là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với Vũ Mạnh Q, khi mua xe đạp điện do Nguyễn Văn T mang đến bán không biết biết là tài sản do người khác phạm tội mà có, T cũng không nói là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 166/CT-VKSLC ngày 26/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T và Ngô Minh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đào Văn B1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Văn Đ2 về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thành T1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa đã được chủ tọa công bố các bản khai có trong hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo B1 phải bồi thường số tiền 1.300.000 đồng đã mua 04 lồng chim, 04 con chim và bị cáo T phải bồi thường số tiền 3.000.000 đồng đã mua 01 xe đạp điện màu đen.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 21 đến 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Minh Đ mức án từ 18 đến 21 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Văn B1 mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội từ 21 đến 27 tháng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ2 mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Việc bồi thường thiệt hại: Tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không đặt vấn đề giải quyết. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gọng gà bằng kim loại, 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng, 01 ổ khóa bằng kim loại màu đen. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Các bị cáo Nguyễn Văn T và Ngô Minh Đ lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh tím than trị giá 3.500.000 đồng và 01 xe đạp điện nhãn hiệu Wuyang trị giá 7.300.000 đồng; 02 lồng chim bằng inox hình trụ trị giá 602.000 đồng; 04 lồng chim bằng tre hình trụ trị giá 1.000.000 đồng; 02 con chim sơn ca trị giá 320.000 đồng; 02 con chim khuyên trị giá 260.000 đồng và 01 xe máy nhãn hiệu DK, loại Siri trị giá 9.460.000 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo Thành và Đ chiếm đoạt là 22.442.000 đồng. Bị cáo Đào Văn B1 cùng Nguyễn Văn T và Ngô Minh Đ lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh tím than trị giá 3.500.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T, Ngô Minh Đ và Đào Văn B1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[2.2] Bị cáo Vũ Văn Đ2 có hành vi chứa chấp tại phòng trọ của mình số G V, phường N, quận L, Hải Phòng 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh tím than trị giá 3.500.000 đông và 01 xe đạp điện nhãn hiệu Wuyang trị giá 7.300.000 đồng; 02 lồng chim bằng inox hình trụ trị giá 602.000 đồng; 04 lồng chim bằng tre hình trụ trị giá 1.000.000 đồng; 02 con chim sơn ca trị giá 320.000 đồng; 02 con chim khuyên trị giá 260.000 đồng và 01 xe máy nhãn hiệu DK, loại Siri trị giá 9.460.000 đồng với tổng giá trị tài sản là 22.442.000 đồng do các bị cáo T, Đ và B1 phạm tội mà có. Như vậy, hành vi của bị cáo Vũ Văn Đ2 đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

[2.3] Bị cáo Đào Văn B1 có hành vi tiêu thụ 06 lồng chim và 04 con chim trị giá 2.182.000 đồng do các bị cáo T và Đ phạm tội mà có. Bị cáo Nguyễn Thành T1 có hành vi tiêu thụ 01 xe đạp điện trị giá 7.300.000 đồng do các bị cáo T và Đ phạm tội mà có. Như vậy, hành vi của các bị cáo Đào Văn B1 và Nguyễn Thành T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi trộm cắp tài sản và chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, tiếp tay cho các hành vi phạm tội, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc đưa các bị cáo ra xét xử trước pháp luật là cần thiết để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng:

[5] Bị cáo B1 có 02 tiền án, trong đó 01 tiền án đã được xóa án tích, 01 tiền án số 54 ngày 29/3/2020 chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo T, Đ nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và và bị cáo Đ2 nhiều lần chứa chấp tài sản phạm tội mà có nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Đ2 là bộ đội xuất ngũ, bị cáo Đ có ông bà nội được tặng huân chương kháng chiến là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

- Xét vai trò của các bị cáo:

[7] Các bị cáo T, Đ rủ nhau và cùng thực hiện hành vi trộm cắp nên các bị cáo có vai trò ngang nhau, bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ, bị cáo T nhân thân có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản mặc dù đã được xóa án tích thể hiện có nhân thân xấu vì vậy bị cáo T có mức án cao hơn bị cáo Đ. Bị cáo B1 tham gia trộm cắp cùng bị cáo T, Đ 01 lần, trị giá tài sản ít nên mức án của bị cáo B1 thấp hơn bị cáo T và Đ. Các bị cáo B1 và T1 có hành vi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có, bị cáo B1 tiêu thụ tài sản có trị giá ít hơn so với bị cáo T1 nhưng nhân thân bị cáo B1 có 01 tiền án chưa được xóa án nên bị cáo B1 và T1 có mức án ngang nhau.

- Về hình phạt:

[8] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn và trên mức khởi điểm của khung hình phạt để cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173; khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

- Việc bồi thường thiệt hại:

[10] 01 chiếc xe máy Honda Wave, màu xanh tím than của chị Đào Thị V, hiện nay chưa xác định được rõ nguồn gốc xe và chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhập kho vật chứng xử lý sau.

[11] 01 xe máy nhãn hiệu DK loại Siri màu đen (xe loại 50CC) và 01 BKS 15AA-290.97 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Văn K, 01 xe đạp điện màu đen, 06 lồng chim, 04 con chim trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đặng Thế A và bị hại không có yêu cầu gì khác; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh T2 không yêu cầu bị cáo B1 bồi thường số tiền 1.300.000 đồng đã mua 04 lồng chim và 04 con chim. Anh Vũ Mạnh Q không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 3.000.000 đồng đã mua 01 xe đạp điện màu đen nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về việc xử lý vật chứng:

[12] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gọng gà bằng kim loại, 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng, 01 ổ khóa bằng kim loại màu đen do không còn giá trị sử dụng.

- Về án phí:

[13] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

[14] Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2023.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Ngô Minh Đ 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2023.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đào Văn B1 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, buộc bị cáo phải chấp hình phạt chung cho cả hai tội là 27 (hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2023.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Văn Đ2 18 (mười tám) tháng tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2023.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: N (mười hai) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/8/2023.
  • - Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gọng gà bằng kim loại, 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng, 01 ổ khóa bằng kim loại màu đen theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Ngô Minh Đ, Đào Văn B1, Vũ Văn Đ2 và Nguyễn Thành T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Ngô Minh Đ, Đào Văn B1, Vũ Văn Đ2 và Nguyễn Thành T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình về bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - PV 06, PC 10 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân phường Lam Sơn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • -Ủy ban nhân phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • -Ủy ban nhân phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • -Ủy ban nhân phường Nghĩa Xá, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 176/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T cùng đồng bọn trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản khi người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger