Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 176/2024/HS-ST

Ngày: 26/4/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Cửu Long.
  2. Ông Võ Văn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 tại tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: Khóm E, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Nguyễn Văn X, không rõ năm sinh; Mẹ: Trần Thị H, sinh năm 1970; Vợ: Không; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/9/2023, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 25/9/2023, Công an phường T, thành phố T phối hợp với Tổ đặc nhiệm của Công an thành phố T, tuần tra đến trước nhà số A, đường T, Khu phố B, phường T, phát hiện Nguyễn Văn T đang đứng một mình có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi da màu đen đeo phía trước ngực của T có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 hộp nhựa bên trong có 04 gói nylon chứa tỉnh thể không màu, 01 cân tiểu ly, 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57. T khai nhận, đây là ma túy đá T đang đi bán cho Nguyễn Tấn T1, chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Văn T khai nhận nguồn gốc số ma túy nêu trên do T mua của một người có tên “Anh H1” tại huyện H, T đã mua ma túy của “Anh H1” được khoảng 10 lần, mỗi lần mua 01 hộp, với giá 2.500.000 đồng, sau đó về phân nhỏ để bán và sử dụng cho bản thân, T đã bán ma túy cho nhiều người nhưng không xác định được lai lịch. Riêng đối với T1, T đã bán ma túy cho T1 được 03 lần, mỗi lần 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, lần thứ 3 chưa giao được ma túy thì bị bắt như nêu trên, số tiền thu lợi từ việc bán ma túy khoảng 5.000.000 (năm triệu) đồng.

Tại Cơ quan điều tra, T1 khai nhận, đã mua ma túy của T được 03 lần, lần thứ 3 vào khoảng 09 giờ 40 phút ngày 25/9/2023, T1 điện thoại cho T để đặt mua 200.000 (hai trăm nghìn) đồng ma túy đá thì T đồng ý, hẹn đến địa điểm nêu trên để giao ma túy, khi đến nơi chưa kịp giao ma túy thì bị kiểm tra đưa về phường T làm việc.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy, Nguyễn Văn T và Nguyễn Tấn T1 dương tính với MET, AMP.

Kết luận giám định số 10626/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K Công an Thành phố H xác định: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,4187 gam, khối lượng còn lại sau giám định là 1,3266 gam. 04 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,2033 gam, khối lượng còn lại sau giám định là 1,0900 gam.

* Vật chứng vụ án:

  • 01 gói nylon chứa tinh thể không màu;
  • 04 gói nylon chứa tinh thể không màu;
  • 01 túi da màu đen; 01 hộp nhựa, 01 cân tiểu ly; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57.

Tại Cáo trạng số: 145/CT-VKSTPTĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 (bảy) năm 6 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Về biện pháp tư pháp: Số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng, bị cáo có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội và là số tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của kiểm sát viên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định, với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng, không có ý kiến gì khác. Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn T: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

Về nội dung:

[1]. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 25/9/2023, tại địa chỉ trước nhà số A, đường T, Khu phố B, phường T, thành phố T, Công an phường T phối hợp với Tổ đặc nhiệm của Công an thành phố T tuần tra và phát hiện Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ 05 (năm) gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine có tổng khối lượng 2,622 (hai phẩy sáu trăm hai mươi hai) gam. Mục đích Trường T2 là để bán lại kiếm lời, số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy của T từ lúc bán đến khi bị phát hiện khoảng 5.000.000 (năm triệu) đồng

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về các tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với đối tượng tên “Anh H1” chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác mình xử lý sau.

Đối với Nguyễn Tấn T1, kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy nên chuyển Công an phường T ra Quyết định xử phạt hành chính.

[2]. Về tình tiết định khung hình phạt:

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận đã bán ma túy cho nhiều người, trong đó bán cho Tấn T1 được 03 (ba) lần, mỗi lần 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Hành vi mua bán ma túy giữa T và T1 không bắt được quả tang, nhưng lời khai của và T1 phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, số tiền, số lần mua bán ma túy. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo T thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Vì vậy, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo T với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

[5]. Về biện pháp tư pháp: Số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy là 5.000.000 (năm triệu) đồng, đây là số tiền bị cáo có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét:

  • 01 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine có tổng khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,4187 gam. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
  • 04 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 1,0900 gam. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
  • 01 túi da màu đen; 01 hộp nhựa, 01 cân tiểu ly. Xét đây là những công cụ bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng nhằm mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57. Xét, đây là phương tiện liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo T, do đó cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 8 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) gói nylon chứa ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine có tổng khối lượng 1,4187 gam còn lại sau khi giám định; 04 (bốn) gói nylon chứa ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 1,0900 gam.
    • Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) túi da màu đen; 01 (một) hộp nhựa, 01 (một) cân tiểu ly.
    • Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A57.

    (Vật chứng đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức theo Quyết định chuyển vật chứng số 109/QĐ-VKS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức).

  4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Bị cáo Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 176/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger