Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 176/2025/HS-ST

Ngày: 21/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Vạn Phúc

2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Trương Văn T, sinh ngày 20/11/1977; tại TP. H; nơi cư trú: số G đường H, phường T, Quận G, TP. H (nay là phường T, TP. H); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Đ và bà Nguyễn Thị A (chết); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 18/4/1998, Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 36/HSST), Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7 không có thông tin về Bản án số 36/HSST ngày 18/4/1988 và việc thi hành án của Trương Văn T đối với bản án này. Ngày 06/02/1999, Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 62/HSST), chấp xong hình phạt tù ngày 29/8/1999, đã nộp xong án phí. Ngày 20/6/2002, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 772/HSST), chấp hành xong án phạt tù ngày 24/12/2005, đã nộp án phí (bút lục số 101, số A - 145, 180). Ngày 28/11/2007, Tòa nhân dân dân Q xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 339/HSST), chấp hành xong án phạt tù ngày 14/3/2011, đã nộp án phí. Ngày 27/02/2012, Tòa án nhân dân Quận 9 xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 34/2012/HSST), chấp hành xong án phạt tù ngày 11/8/2012, Thi hành án dân sự T2 không có thông tin thụ lý thi hành nghĩa vụ của bị cáo theo Bản án số 34/2012/HSST ngày 27/02/2012. Ngày 04/9/2014, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 374/2014/HSST), chấp hành xong án phạt tù ngày 31/5/2017, đã nộp án phí. Ngày 03/5/2019, Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 49/2019/HS-ST), chấp hành xong án phạt tù ngày 29/3/2021, đã nộp xong án phí; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2025; bị cáo có mặt.

- Bị hại: Ông Alexis Roger Michel G, sinh năm 1995; Quốc tịch: Cộng hòa Pháp (Vắng mặt)

Địa chỉ liên lạc: A2503, số A đường B, Phường F, Quận D, TP. H (nay là phường K, TP. H).

- Người phiên dịch: Bà Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1998 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Chung cư S, xã P, huyện N, TP. H (nay là xã N, TP. H).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị Mộng L, sinh năm 1957 (Vắng mặt)

Địa chỉ: số H đường T, Phường A, Quận A, TP. H (nay là phường H, TP. H).

Địa chỉ liên lạc: số F đường B Khu dân cư B, Ấp A, xã B, huyện B, TP. H (nay là xã B, TP. H).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 25/12/2024, Trương Văn T điều khiển xe đạp lưu thông trên đường N, phường B, Quận A (nay là phường B), TP. H nhìn thấy anh Alexis Roger Michel G (quốc tịch Cộng hòa Pháp) nằm ngủ (do say bia, rượu) tại lề đường trước số E đường N, phường B, TP. H, bên cạnh có 01 chiếc túi cầm tay bằng vải, có họa tiết, màu đen, trắng nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T xuống xe đi bộ đến gần anh Alexis Roger Michel G, dùng tay lấy trộm túi xách của anh Alexis R Michel Gloc và mở túi kiểm tra bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, nên T lấy điện thoại di động cất vào túi quần, rồi để chiếc túi ở vị trí cũ và bỏ đi.Sau khi lấy được điện thoại, T đạp xe đến quán café gần cầu N, Phường E, Quận H (nay là phường P), TP. H gửi xe đạp và đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, T lấy xe máy hiệu Kawasaki, biển số 52H1-4757 để đi bán điện thoại. Khi đi đến trước địa chỉ số B đường H, Phường I, Quận E, T bị Tổ tuần tra 363 Công an Q1, TP. H nghi vấn kiểm tra, thu giữ điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, dung lượng 512GB và T khai nhận trộm cắp của anh Alexis R Michel Gloc nên Tổ tuần tra giao đối tượng, vật chứng cho Công an P, Quận E xử lý.

Ngày 25/12/2024, anh A1 đến Công an P, Quận E trình báo sự việc bị mất 01 chiếc túi cầm tay bằng vải, có họa tiết, màu đen, trắng, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 15 Promax, màu xám, dung lượng 512 GB, 01 mắt kính, 03 giấy phép lái xe, 01 thẻ tín dụng và khoảng 1.500.000 đồng. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q2 để xử lý (Bút lục số 20).

Tại Kết luận định giá tài sản số 213/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: “01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 15 Promax, màu xám, dung lượng 512GB (đã qua sử dụng, hiện đã thu hồi), với giá 23.000.000 đồng; Từ chối định giá đối với: 01 chiếc túi cầm tay bằng vải, có họa tiết bông màu đen trắng, qua sử dụng, hiện chưa thu hồi và 01 mắt kiếng, qua sử dụng, hiện chưa thu hồi” (Bút lục số 80, 81).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q2 và tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H, T khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Về tài sản bị chiếm đoạt có sự mâu thuẫn giữa lời khai của bị hại và T. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra xác định tài sản T chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, trị giá 23.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 15 Promax, màu xám, dung lượng 512GB (Đã trao trả cho anh Alexis R Michel Gloc).
  • - 01 điện thoại di động hiệu S 5, màu vàng đồng, số Imei: 353410072718522; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A5, màu hồng, số I: 258548064965078.
  • - 01 xe máy hiệu Kawasaki biển số 52H1-4757, số khung: A15750, số máy: GEA15750. Kết quả giám định: Xe có số khung – số máy nguyên thủy, không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Qua xác minh, xe máy trên do chị Lê Thị Mộng L (sinh năm 1957; nơi thường trú: số C lầu B, phường A, TP. H) đứng tên chủ sở hữu. Hiện bà L không có mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai. T khai chiếc xe là do T mua của 01 người đàn ông tên T1, không rõ lai lịch với giá 2.000.000 đồng ở Quận H, có giấy đăng ký xe mang tên Lê Thị Mộng L.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 03/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax cho bị hại, nhận lại tài sản anh Alexis Roger Michel G không có yêu cầu gì khác (Bút lục số 83).

(Tất cả đã nhập kho vật chứng).

Tại bản cáo trạng số 835/CT-VKS-P2 ngày 23/9/2025 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Kết luận định giá tài sản số 213/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận A, lời khai của bị hại, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 04 giờ ngày 25/12/2024, tại trước số E đường N, phường B, TP. H, bị cáo Trương Văn T đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax của anh Alexis R Michel Gloc (quốc tịch Cộng hòa Pháp) trị giá là 23.000.000 đồng. Hành vi của T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.

[3] Xét bị cáo có nhân thân rất xấu và hành vi phạm tội lần này của T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội, nên cần xử lý nghiêm để cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 15 Promax, màu xám đã trao trả cho anh Alexis Roger Michel G nên không xem xét.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu S 5, màu vàng đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A5, màu hồng là tài sản riêng của T nên giao trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 xe máy hiệu KAWASAKI biển số 52H1-4757, số khung: A15750, số máy: GEA15750. Qua xác minh, xe máy trên do bà Lê Thị Mộng L đứng tên chủ sở hữu. Hiện bà L không có mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai. T khai chiếc xe là do T mua của 01 người đàn ông tên T1, không rõ lai lịch với giá 2.000.000 đồng ở Quận H, có giấy đăng ký xe mang tên Lê Thị Mộng L. Nên giao xe cho Cơ quan thi hành án Dân sự tiếp tục xác minh chủ sở hữu. Trường hợp xác định bà L là chủ sở hữu xe thì giao trả xe trên cho bà L.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025;

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2025.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Giao trả cho T 01 điện thoại di động hiệu S 5, màu vàng đồng, số I: 353410072718522 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A5, màu hồng, số I: 258548064965078.

Giao Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh làm thủ tục thông báo trên báo để tìm và trả lại 01 xe máy hiệu Kawasaki biển số 52H1-4757, số khung: A15750, số máy: GEA15750 cho chủ sở hữu hợp pháp. Trường hợp xác định bà Lê Thị Mộng L là chủ sở hữu xe thì giao trả xe trên cho bà Lê Thị Mộng L. Nếu quá 06 (sáu) tháng kể từ ngày chủ sở hữu hợp pháp không đến nhận xe thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

(Tang vật giao trả cho bị cáo; Giao Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh được ghi trong Quyết định chuyển vật chứng số 605/QĐ-VKS-P2 ngày 23/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND Khu vực 1, TP. HCM;
  • - Công an TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp;
  • - THADS TP. HCM;
  • - UBND P. Tân Thuận, TP. HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Huệ Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 176/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger