Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2025/HS-ST

Ngày 20/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn Hóa và ông Nguyễn Việt Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thanh Hải

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa:

Ông Lê Quang Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:148/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/HSST-QĐ ngày 04/06/2025 đối với các bị cáo:

  1. Đào Trung H, sinh năm 1988; HKTT: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Nơi ở: Số C phố N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Đào Xuân Đ, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Lê Hồng L, sinh năm 1964; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; D chỉ bản số 606 lập ngày 15/12/2024 tại Công an quận H; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tam giam số 2 – Công an thành phố H.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

  3. Bùi Việt T, sinh năm 1986; HKTT và chỗ ở: Tổ B, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Bùi Văn H1, đã chết; Mẹ đẻ: Vũ Thị T1, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; D chỉ bản số 610 lập ngày 15/12/2024 tại Công an quận H; Tiền án, tiền sự: Không
  4. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tam giam số 2 – Công an thành phố H.

    (Có mặt tại phiên tòa)

  5. Đàm Văn H5, sinh năm 1995; HKTT và chỗ ở: Xóm B, xã Y, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Bố đẻ: Đàm Văn N, sinh năm 1971; Mẹ đẻ: Vũ Thị T2, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; D chỉ bản số 607 lập ngày 15/12/2024 tại Công an quận H; Tiền án, tiền sự: Không.
  6. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tam giam số 2 – Công an thành phố H.

    (Có mặt tại phiên tòa)

  7. Lê Mạnh H2, sinh năm 1994; HKTT: Số A ngách G ngõ V, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Tổ C phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Lê Quý T3, sinh năm 1953; Mẹ đẻ: An Thị T4, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; D chỉ bản số 609 lập ngày 15/12/2024 tại Công an quận H.
  8. Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tam giam số 2 – Công an thành phố H.

    (Có mặt tại phiên tòa)

  9. Trần Thành K, sinh năm 2002; HKTT và chỗ ở: Thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Bố đẻ: Trần Thành T5, sinh năm 1970; Mẹ đẻ: Phạm Thị T6, sinh năm 1974; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; D chỉ bản số 608 lập ngày 15/12/2024 tại Công an quận H; Tiền án, tiền sự: Không.
  10. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tam giam số 2 – Công an thành phố H.

    (Có mặt tại phiên tòa)

II. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1941; Chỗ ở: Số C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
  2. Ông Trần Đức T7, sinh năm: 1934; Chỗ ở: Số C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội; ( Vắng mặt tại phiên tòa)
  3. Chị Trần Thị Thúy N1, sinh năm: 1975; Chỗ ở: Số C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội. ( Có mặt tại phiên tòa).
  4. Anh Trần Hoàng H3, sinh năm: 1964; Chỗ ở: Số C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội. ( Có mặt tại phiên tòa).
  5. Anh Trần Thanh H4, sinh năm: 1971; Chỗ ở: Số C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội. ( Có mặt tại phiên tòa).
  6. Anh Đào Xuân N2, sinh năm; 1993; Chỗ ở: Số C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội. ( Vắng mặt tại phiên tòa)
  7. Anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm: 2006; HKTT: Xóm Đ, L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở: C, ngõ G đường H, H, H, Hà Nội. ( Vắng mặt tại phiên tòa)
  8. Anh Phạm Đức Á – Sinh năm: 2005; HKTT: Xóm Đình, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở: C, ngõ G đường H, H, H, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  9. Chị Đinh Thị Thu T8 – Sinh năm: 1996; HKTT: Chí Tân, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở: C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  10. Anh Phạm Xuân K1 – Sinh năm: 2001; HKTT: Xóm A xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  11. Chị Đào Thị Vân A - Sinh năm: 2000; Chỗ ở: C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  12. Anh Mai Huy S - Sinh năm: 1994; HKTT: SỐ G Tổ C TT Xây lắp B, P, T, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  13. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trương Thị Y: Ông Nguyễn Xuân A1, ông Vũ Đình T9, ông Bùi Thanh L1, ông Nguyễn Hải L2, ông Lương Tuấn A2 – Thuộc Công ty L3.

    ( Ông T9, ông L1, ông L2, ông Tuấn A2 có mặt tại phiên toà).

  14. Bà Trương Thị Y ( Tức Trương Thị Hải Y) - Sinh năm: 1958; HKTT: Số A tổ A, P, T, Hà Nội. ( Có mặt tại phiên tòa).
  15. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trương Thị Y: Ông Nguyễn Xuân A1, ông Vũ Đình T9, ông Bùi Thanh L1, ông Nguyễn Hải L2, ông Lương Tuấn A2 – Thuộc Công ty L3.

    (Ông T9, ông L1, ông L2, ông Tuấn A2 có mặt tại phiên toà).

III. Người làm chứng:

  1. Nguyễn Minh T10 - Sinh năm:1988; HKTT: Thôn T, L, T, Hà Nam.
  2. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/12/2011 vợ chồng ông Trần Đức T7 (SN: 1933; HKTT: SỐ C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội), bà Nguyễn Thị C (SN: 1941 ; HKTT: SỐ C ngõ I đường H, H, H, Hà Nội) đã chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại địa chỉ số I tổ D H, H, Hà Nội (thửa đất số 32 tờ bản đồ số 5H-II-29(1996) diện tích 366,6 m theo Giấy chứng nhận số 10107490437, hồ sơ gốc số: 7303.2000. QĐUB/30695.2000 do UBND thành phố H cấp ngày 25/12/2000) nay là số 33A ngõ I đường H, phường H, H, Hà Nội cho anh Mai Huy S (SN: 1994; HKTT: SỐ G Tổ C TT Xây lắp B, P, T, Hà Nội). Ngày 21/12/2011, anh Mai Huy S đã thế chấp toàn bộ mảnh đất trên tại Ngân hàng N3 Chi nhánh C4. Sau khi thế chấp, Mai Huy S ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Trương Thị Y (SN: 1958; HKTT: SỐ A tổ A, P, T, Hà Nội) thay mặt S làm việc với các cá nhân, tổ chức giải quyết các vấn đề liên quan đến thửa đất trên. Mặc dù đã tiến hành chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho S nhưng gia đình ông T11, bà C cùng các con vẫn ăn ở sinh hoạt tại đây cho đến nay.

Khoảng cuối tháng 10/2024 anh S, bà Y yêu cầu gia đình ông T7, bà C1 dọn đi nơi khác và bàn giao lại toàn bộ mảnh đất, nhà ở trên cho anh S, bà Y nhưng gia đình ông T7, bà C không đồng ý. Do vậy bà Y đã nhờ Nguyễn Minh T10 (SN:1988; HKTT: Thôn T, L, T, Hà Nam) giúp bà lấy lại mảnh đất trên để bán. Sau đó T10 liên hệ với Đào Trung H (SN: 1988, HKTT: N, T, H, Hà Nội) kể về việc bà Y muốn bán thửa đất trên nhưng hiện tại để bán được thì gia đình ông T7 và bà C cùng các con đang sinh sống phải trả lại thửa đất cùng toàn bộ nhà cho bà Y. Tiếp đó H kể lại cho Bùi Việt T; Nguyễn Văn T12 và Đàm Văn H5 về nội dung trên thì cả nhóm đã bàn bạc thống nhất tìm cách gây sức ép, bắt gia đình ông T7, bà C phải trả lại nhà đất cho bà Y. Sau đó bà Y hứa sẽ bán lại thửa đất trên cho nhóm H, T, T12, H5 với giá rẻ hơn so với giá thị trường.

Ngày 21/11/2024, T10 hẹn Đào Trung H, Bùi Việt T, Nguyễn Văn T12, Đàm Văn H5 đền gặp bà Y tại quán café ở địa chỉ số C G, P, T, Hà Nội. Tại đây, bà Y nhờ nhóm T, H, T12, H5 đòi lại mảnh đất trên thì được cả nhóm đồng ý nên cùng ngày tại văn phòng C5 địa chỉ tại tổ A, khu X, thị trấn X, C, Hà Nội, bà Y cùng anh S đã ký kết hợp đồng ủy quyền cho H5, T, T12, H được sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất tại địa chỉ số C ngõ I đường H, phường H, H, Hà Nội.

Ngày 21/11/2024 nhóm T, H, T12, H5 đến thửa đất đồng thời yêu cầu gia đình ông T7, bà C và những người đang thuê trọ tại đây chuyển đi nơi khác sinh sống. Tuy nhiên, gia đình bà C không đồng ý nên đã trình báo Công an phường H đến giải quyết. Sau đó Cơ quan Công an đã mời tất cả về trụ sở công an phường H để làm việc. Tại đây, công an phường H đã yêu cầu nhóm T, H, T12, H5 và những người liên quan viết cam đoan không gây mất an ninh trật tự và sau đó cho về.

Ngày 22/11/2024 nhóm T, H, T12, H5 tiếp tục đến vị trí đất gia đình ông T7, bà C đang ở và yêu cầu ông bà bàn giao nhà và đất nhưng gia đình ông T7, bà C không bàn giao nên T, H, T12, H5 đã bàn bạc, lên kế hoạch để gây sức ép, bắt gia đình ông T7, bà C và sinh viên thuê trọ hiện đang ở tại thửa đất trên phải chuyển đi nơi khác. Nhóm T, H, T12, H5 đã bàn bạc, thống nhất phân công nhiệm vụ như sau: H là người chuẩn bị lều bạt để cả nhóm dựng lều ăn ở sinh hoạt trong sân nhà gia đình ông T11, bà C. H5 là người in băng rôn để treo trước cửa cổng lối ra vào nhà. Ngoài ra để phục vụ quá trình sinh hoạt nhóm đổi tượng còn chủ động chuẩn bị bát đũa, cốc uống nước, bếp Gas du lịch, đồ dùng cá nhân, 02 loa, mic hát karaoke với mục đích ăn ở tại đây.

Đến ngày 24/11/2024 nhóm T, H, T12, H5 đến nhà gia đình ông T11, bà C thì gặp vợ chồng bà C, ông T7 cùng chị Trần Thị Thúy N1 (SN: 1975, HKTT: SỐ C ngõ I đường H, phường H, H, Hà Nội), anh Trần Hoàng H3 (SN:1964; HKTT: SỐ C ngõ I đường H, phường H, H, Hà Nội) là con đẻ của ông T7 và bà C. Nhóm T, H, T12 và H5 thông báo cho gia đình việc được bà Y ủy quyền sư dụng mảnh đất, nhà ở của gia đình ông T7, bà C và có cho gia đình ông T7, bà C xem Giấy ủy quyền rồi tiếp tục yêu cầu gia đình ông T7, bà C, số người đang thuê trọ của gia đình ông T7, bà C phải sắp xếp đồ đạc chuyển đi nơi khác ở. Do gia đình ông T7, bà C không đồng ý nên nhóm của T, H, T12, H5 đã triển khai thực hiện kế hoạch đã bàn bạc, thống nhất với nhau trước đó. H5 trực tiếp căng băng 01 rôn ở cổng ra vào với nội dung "ĐỀ NGHỊ ÔNG TIỀN BA CÔI HOÀN TRẢ LẠI MẢNH ĐẤT ĐÃ BÁN CHO GIA CHỦ" và đưa cho T, H, T12 01 khóa dây màu xanh để khóa cổng chính, khi gia đình bà C ra vào công thì phải xin ý kiến của của nhóm. Sau đó cả nhóm T, H, T12, H5 vào sân nơi gia đình ông T7, bà C đang sinh sống dựng lều để ăn ở sinh hoạt tại sân. Sau đó cả nhóm bàn bạc cùng nhau rủ thêm bạn bè của mọi người trong nhóm đến ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích để gây sức ép cho gia đình ông T7, bà C và những người đang thuê trọ. T đã rủ Lê Mạnh H2 (SN: 1994, HKTT: Số A ngách G ngõ V phố T, H, Đ, Hà Nội); H2 đã rủ Trần Thành K (SN: 2002, HKTT: Chi Lăng, Đ, K, Hưng Yên) ngoài ra nhóm T, H, T12, H5 còn rủ thêm một số đối tượng chưa xác định rõ nhân thân lai lịch thi thoảng đến tham gia ăn uống, hát hò, gây sức ép cùng nhóm. Hàng ngày H5, T, T12, H, H2, K liên tục gây áp lực cho gia đình ông T7, bà C và những người thuê trọ bằng cách cố tình ăn uống, phóng uế, vứt rác thải ra xung quanh sân nhà bà C, đồng thời dùng 01 loa kéo màu đen (đã được sạc pin) có mic để hát karaoke trong khung giờ buổi tối từ khoảng 18h00 phút đến 22h00 phút, các đối tượng còn lấy gạo cho vào 01 cốc nhựa uống nước rồi cắm nhang để thắp hương, dùng loa bật nhạc đám ma trong khung giờ buổi trưa trong khung giờ từ 12h00 phút đến khoảng 13h00 phút, và đến từng phòng trọ, yêu cầu khách đang thuê trọ trong khuôn viên nhà ông T7, bà S gồm anh Đào Xuân N2 (SN: 1993; chỗ ở: nhà C ngõ I H, H, H, Hà Nội), chị Đào Thị Vân A (SN:2000; chỗ ở: nhà C ngõ I H, H, H, Hà Nội), anh Phạm Đức Á (SN: 2005; Chỗ ở: nhà C ngõ I H, H, H, Hà Nội) và anh Hoàng Văn Đ1 (SN: 2006; chỗ ở: 32 ngõ G H, H, H, Hà Nội), Phan Xuân K2 (SN: 2001; Chỗ ở: phòng số G nhà C ngõ I, H, Hoàng Văn T13, H, Hà Nội), chị Đinh Thị Thu T8 (SN: 1996; Chỗ ở: phòng số H nhà C ngõ I, H, Hoàng Văn T13, H, Hà Nội) phải chuyển đi nơi khác ở. Toàn bộ hành vi ăn nhậu, hò hét, bật nhạc đám ma (mặc dù tại khu vực này không có người chết), hát karaoke vào tối muộn; tự ý sử dụng điện nước; xả rác, phóng uế bừa bãi; chặn lối đi, khóa cổng nhà; chửi bới, đe dọa các thành viên trong gia đình bà C và những người thuê trợ được diễn ra liên tục trong thời gian từ ngày 24/11/2024 đến ngày 04/12/2024 đã làm mất trật tự, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình ông T7, bà C và những người thuê trọ cùng hàng xóm xung quanh.

Đến 17 giờ 30 phút ngày 04/12/2024 khi nhóm H, T12, H2, H5 đang ngồi trong sân thì chị N1 đứng trên tầng 2 dãy nhà trọ trong khuôn viên của thửa đất (thửa đất trên gồm 01 căn nhà gia đình ông T7, bà C ở và 01 căn nhà cho thuê trọ cạnh cổng ra vào) chửi bới yêu cầu nhóm H, T12, H2, H5 ra khỏi nhà gia đình ông T7, bà C. Thấy vậy, H2 và T12 đi lên tầng 2 để nói chuyện với chị N1 còn H, H5 đứng dưới chân cầu thang. Hai bên chửi bới nhau dẫn đến xô Xát. Chị N1 gọi anh H3 đến nói là bị dọa đánh. Khoảng 18 giờ cùng ngày, anh H3 đến nơi thấy T12, H5 và 02 đối tượng nam giới (không rõ nhân thân lai lịch) đang có hành vi chửi bới, xô đẩy chị N1 ra ngoài cổng. Anh H3 không chứng kiến có ai đánh chị N1, khi đến đã thấy chị N1 bị sưng to ở trán, thì anh H3 đã lấy 01 khóa cửa màu vàng khóa cổng lại với mục đích không cho các đối tượng ra ngoài và thông báo sự việc cho công an phường H. Thấy vậy, đối tượng K3 (không rõ nhân thân lai lịch) đã dùng búa đập bung ổ khóa để cho các đối tượng bỏ chạy ra ngoài. Sau đó Công an phường H đã đến và mời tất cả về trụ sở làm rõ sự việc.

Tang vật thu giữ: 03 (ba) bạt nhựa; 06 (sáu) ghế nhựa xanh; 01 (một) bạt màu xanh kích thước 3x6m; 06 (sáu) cọc tre; 01 (một) lều; 02 (hai) mic hát karaoke; 01 (một) loa di động to; 01 (một) loa di động nhỏ; 02 (hai) chăn; 04 (bốn) gối; 01 (một) chiếu cói; 01 (một) vợt muỗi; 01 (một) bình nước dung tích 20 lít; 01 (một) ấm; 01 (một) bếp ga mi ni; 02 (hai) nồi; 20 (hai mươi) chén uống nước; 05 (năm) bát con; 01 (một) bát to; 04 (bốn) bình ga mi ni; 02 (hai) can rượu 20 lít; 01 (một) băng rôn màu đỏ kích thước 2x5 mét. Tất cả đều đã qua sử dụng.

Sau khi vụ việc xảy ra Ủy ban nhân dân phường H xác định tại khu vực số nhà C (số I cũ) ngõ I đường H, phường H, H, Hà Nội, ủy ban nhân dân phường H tiếp nhận nhiều đơn kiến nghị, phản ánh của quần chúng nhân dân liên quan đến việc các đối tượng ăn uống, tụ tập đông người hát hò, bật nhạc đám ma, thắp hương tại thửa đất mà ông T7, bà C đang sinh sống từ ngày 24/11/2024 đến ngày 04/12/2024 gây mất trật tự tại đây.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Đàm Văn H5, Đào Trung H, Lê Mạnh H2, Bùi Việt T và Trần Thành K khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được. Các bị can thừa nhận việc căng băng rôn, dựng lều tại sân nhà ông T7, bà C đang sinh sống, ăn nhậu, hò hét, bật nhạc đám ma mặc dù tại khu vực này không có người chết, hát karaoke vào tối muộn; tự ý sử dụng điện nước; xả rác, phóng uề bừa bãi, khóa cổng nhà; chửi bới, đe dọa các thành viên trong gia đình bà C và những người thuê trọ của gia đình bà C. Do hành vi của các đối tượng nam giới đến nhà làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt nên anh Đ1, anh  phải ngừng việc thuê nhà của chị N1 và rời đi nơi khác sinh sống.

Lời khai của các thành viên trong gia đình bà C và các người thuê trọ cùng hàng xóm xung quanh nhà khai phù hợp với nội dung lời khai của các bị can như đã nêu trên. Ngoài ra, chị Trần Thị Thúy N1 còn tố giác các đối tượng có hành vi cắt dây mạng Internet, cắt dây Camera của gia gia đình bà C; có hành vi Cố ý gây thương tích cho chị N1 và có hành vi xâm phạm chỗ ở của gia đình chị N1.

Đối với tố giác về hành vi xâm phạm chỗ ở của ông T7, bà C tại thửa đất SỐ 33A ngõ I đường H, H, H, Hà Nội ; trên giấy tờ pháp lý hiện tại đứng tên Mai Huy S. Sau đó S và bà Y đã ủy quyền cho nhóm T, T12, H, H5 thay mặt S và bà Y được sử dụng nhà ở và quyền sử dụng thửa đất trên. Do đó, việc nhóm T, T12, H, H5, K, H2 đến ăn ở, sinh hoạt tại mảnh đất trên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm xâm phạm chỗ ở quy định tại điều 158 Bộ luật Hình sự. Hiện tranh chấp nêu trên đang được Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai thụ lý giải quyết.

Đối với các nội dung tố giác tội phạm của chị Trần Thị Thúy N1 về việc chị bị nhóm đối tượng T, H5, H, T12 đánh gây thương tích ngày 04/12/2024; cắt đường truyền mạng internet, dây camera quan sát của gia đình ngày 27; 28/11/2024 và đập ổ khóa cổng bà C ngày 04/12/2024, ngoài lời khai của chị N1 không có tài liệu, chứng cứ gì khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiếp tục xác minh, làm rõ.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T12 sau khi vụ việc xảy ra do T12 bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã. Hết thời hạn điều tra do chưa bắt được T12 nên cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số A6538 ngày 29/4/2025 đối với bị cáo T12 và các đối tượng có liên quan để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 153/CT-VKS-HM ngày 12 tháng 05 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố các bị cáo: Đào Trung H, Bùi Việt T, Đàm Văn H5, Lê Mạnh H2 và Trần Thành K về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 318 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Đào Trung H từ 24 đến 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
  • Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Bùi Việt T từ 24 đến 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
  • Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Đàm Văn H5 từ 24 đến 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
  • Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Lê Mạnh H2 từ 24 đến 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
  • Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Trần Thành K từ 24 đến 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Về xử lý vật chứng:

- 03 (ba) bạt nhựa; 06 (sáu) ghế nhựa xanh; 01 (một) bạt màu xanh kích thước 3x6m; 06 (sáu) cọc tre; 01 (một) lều; 02 (hai) chăn; 04 (bốn) gối; 01 (một) chiếu cói; 01 (một) vợt muỗi; 01 (một) bình nước dung tích 20 lít; 01 (một) ấm; 01 (một) bếp ga mi ni; 02 (hai) nồi; 20 (hai mươi) chén uống nước; 05 (năm) bát con; 01 (một) bát to; 04 (bốn) bình ga mi ni; 02 (hai) can rượu 20 lít; 01 (một) băng rôn màu đỏ kích thước 2x5 mét là tang vật các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 02 (hai) mic hát karaoke; 01 (một) loa di động to; 01 (một) loa di động nhỏ là tang vật các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Tại phiên tòa: Các bị cáo: Đào Trung H, Bùi Việt T, Đàm Văn H5, Lê Mạnh H2 và Trần Thành K thừa nhận hành vi sử dụng cố tình vứt rác, phóng uế bừa bãi, sử dụng 01 loa kéo (đã sạc sẵn pin) có mic để hát karaoke trong khung giờ khoảng 18 giờ đến 22 giờ; sử dụng điện thoại và loa bật nhạc đám ma và đến từng phòng trọ yêu cầu các khách đang thuê phòng trọ của gia đình ông T7, bà C phải chuyển đi chỗ khác sinh sống. Các bị cáo không nhận nhiệm vụ, không được cung cấp tiền và công cụ việc phạm tội từ Trương Thị Hải Y và Mai Huy S. Việc các bị cáo có các hành vi gây rối trật tự công cộng là do các bị cáo bộc phát làm chứ không liên quan đến Trương Thị Hải Y và Mai Huy S. Các bị cáo tự nhận thấy hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trương Thị Y (tức Trương Thị Hải Y) và Mai Huy S phát biểu ý kiến: Anh Mai Huy S là chủ sở hữu hợp pháp của thửa đất số 32 tờ bản đồ số 5H-II-29(1996) diện tích 366,6 m theo Giấy chứng nhận số 10107490437, hồ sơ gốc số: 7303.2000. QĐUB/30695.2000 do UBND thành phố H cấp ngày 25/12/2000) nay là số 33A ngõ I đường H, phường H, H, Hà Nội. Ngày 21/12/2011, anh Mai Huy S đã thế chấp toàn bộ mảnh đất trên tại Ngân hàng N3 - Chi nhánh C4. Sau khi thế chấp, Mai Huy S ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Trương Thị Y (SN: 1958; HKTT: Số A tổ A, P, T, Hà Nội) thay mặt S làm việc với các cá nhân, tổ chức giải quyết các vấn đề liên quan đến thửa đất trên. Sau đó văn phòng công chứng Nguyễn Tiến V địa chỉ tại tổ A, khu X, thị trấn X, C, Hà Nội, bà Y cùng anh S đã ký kết hợp đồng ủy quyền cho H5, T, T12, H được sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất tại địa chỉ số C ngõ I đường H, phường H, H, Hà Nội. Các bị cáo sau khi nhận uỷ quyền của bà Y và anh S đã có hành vi vượt quá uỷ quyền dẫn đến hành vi phạm tội. Việc các bị cáo phạm tội không liên quan đến bà Trương Thị Hải Y và Mai Huy S.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ nhất mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi bị truy tố: Tại các Biên bản bắt người; cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện:

Xuất phát từ việc tranh chấp quyền sử dụng thửa đất số 33A ngõ I đường H, H, H, Hà Nội (do anh Mai Huy S đứng tên sở hữu nhưng hiện trạng nhà và đất trên thửa đất vẫn do gia đình ông Trần Đức T7, bà Nguyễn Thị C và các con đang sinh sống tại đây). Ngày 21/11/2024, tại văn phòng C5 địa chỉ tại tô A, khu X, thị trấn X, C, Hà Nội, anh Mai Huy S bà Trương Thị Hải Y đã ký kết hợp đồng ủy quyền cho Đàm Văn H5, Bùi Việt T, Nguyễn Văn T12 và Đào Trung H được sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất tại địa chỉ số C ngõ I đường H, phường H, H, Hà Nội để nhóm này lấy lại đất trả lại cho anh S và bà Y.

Từ ngày 24/11/2024 đến ngày 04/12/2024, Đàm Văn H5, Đào Trung H, Lê Mạnh H2 Bùi Việt T và Trần Thành K đã đến số C ngõ I đường H, phường H, H, Hà Nội dựng lều và thực hiện các hành vi: căng 01 băng rôn yêu cầu ông T7, bà C trả lại thửa đất; mang theo nhiều đồ dùng cá nhân đến để ăn ở, sinh hoạt tại sân nhà ông T7, bà C; rủ bạn bè cùng đến ăn uống, sinh hoạt; tự ý sử dụng điện nước, sử dụng 01 khóa dây màu xanh để khóa cổng ra vào của ngôi nhà; cố tình vứt rác, phóng uế bừa bãi; sử dụng 01 loa kéo (đã sạc sẵn pin) có mic để hát karaoke trong khung giờ khoảng 18 giờ đến 22 giờ; sử dụng 01 cốc nhựa dùng để uống nước cho gạo vào cốc để thắp hương; sử dụng điện thoại và loa bật nhạc đám ma và đến từng phòng trọ yêu cầu các khách đang thuê phòng trọ của gia đình ông T7, bà C phải chuyển đi chỗ khác sinh sống. Các bị cáo đã bàn bạc phân công thực hiện tội phạm cụ thể, chặt chẽ đã làm mất trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội làm ảnh hưởng đến cuộc sống của khu dân cư nên phải xử lý bằng pháp luật hình sự mới đủ tác dụng răn đe phòng ngừa.

Hành vi nêu trên của Đào Trung H, Bùi Việt Tuấn Đàm Văn H5, Lê Mạnh H2 và Trần Thành K đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, Tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định:

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a. Có tổ chức; ...”

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng hoạt động bình thường của mọi người dân. Hậu quả nghiêm trọng ở đây là gây náo động làm mất trật tự, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự trị an của khu dân cư, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân. Do vậy việc truy tố và xét xử các bị cáo và cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự đối với các bị cáo.

Các bị cáo Đào Trung H, Bùi Việt T, Đàm Văn H5, Lê Mạnh H2 và Trần Thành K phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo các bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Các bị cáo Đào Trung H; Bùi Việt T; Đàm Văn H5; Lê Mạnh H2 và Trần Thành K đều chưa có tiền án tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Đàm Văn H5 có ông là Vũ Văn H6 được chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước; Bị cáo Đào Trung H có ông là Đào Văn K3 được chủ tịch UBND tỉnh H tặng bằng khen vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược, bị cáo Trần Thành K được chủ tịch UBND huyện khoái C2 , tỉnh Hưng Yên tặng giấy khen: Công dân tiêu biểu trong thực hiện nghĩa vụ quan sự năm 2020 và được Đảng uỷ, chỉ huy trung đoàn B biểu dương tinh thần tự nguyện, tự giác tham gia phòng chống dịch Covit nên bị cáo H5,bị cáo H, bị cáo K được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Đào Trung H; Bùi Việt T; Đàm Văn H5; Lê Mạnh H2 và Trần Thành K là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - 03 (ba) bạt nhựa; 06 (sáu) ghế nhựa xanh; 01 (một) bạt màu xanh kích thước 3x6m; 06 (sáu) cọc tre; 01 (một) lều; 02 (hai) chăn; 04 (bốn) gối; 01 (một) chiếu cói; 01 (một) vợt muỗi; 01 (một) bình nước dung tích 20 lít; 01 (một) ấm; 01 (một) bếp ga mi ni; 02 (hai) nồi; 20 (hai mươi) chén uống nước; 05 (năm) bát con; 01 (một) bát to; 04 (bốn) bình ga mi ni; 02 (hai) can rượu 20 lít; 01 (một) băng rôn màu đỏ kích thước 2x5 mét là tang vật các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 02 (hai) mic hát karaoke; 01 (một) loa di động to; 01 (một) loa di động nhỏ là tang vật các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội,còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[5] Các vấn đề khác :

Đối với tố giác về hành vi xâm phạm chỗ ở của ông T7, bà C tại thửa đất số 33A ngõ I đường H, H, H, Hà Nội ; trên giấy tờ pháp lý giấy chứng nhận quyền sở hữu đất và nhà đứng tên Mai Huy S. Sau đó S và bà Y đã ủy quyền cho nhóm T, T12, H, H5 thay mặt S và bà Y được sử dụng nhà ở và quyền sử dụng thửa đất trên. Do đó, việc nhóm T, T12, H, H5, K, H2 đến ăn ở, sinh hoạt tại mảnh đất trên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm xâm phạm chỗ ở quy định tại điều 158 Bộ luật Hình sự.

Đối với các nội dung tố giác tội phạm của chị Trần Thị Thúy N1 về việc chị bị nhóm đối tượng T, H5, H, T12 đánh gây thương tích ngày 04/12/2024; Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1776/KLTTCT – TTPY ngày 10 tháng 12 năm 2024: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Trần Thị Thúy N1 tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể nên cơ quan điều tra không giải quyết là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với các nội dung tố giác tội phạm của chị Trần Thị Thúy N1 về việc chị bị nhóm đối tượng cắt đường truyền mạng internet, dây camera quan sát của gia đình ngày 27; 28/11/2024 và đập ổ khóa cổng bà C ngày 04/12/2024, ngoài lời khai của chị N1 không có tài liệu, chứng cứ gì khác nên Cơ quan điều tra không giải quyết là có căn cứ.

Đối với yêu cầu của bà Trần Thị C3 về việc xử lý Hình sự đối với Trương Thị Hải Y và Mai Huy S: Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ và diễn biến phiên tòa, tại phiên toà các bị cáo T, T12, H, H5, K, H2 đều khẳng định không nhận nhiệm vụ, không được cung cấp tiền và công cụ việc phạm tội từ Trương Thị Hải Y và Mai Huy S. Việc các bị cáo có các hành vi gây rối trật tự công cộng là do các bị cáo bộc phát làm chứ không liên quan đến Trương Thị Hải Y và Mai Huy S. Nên không căn cứ xử lý đối với Trương Thị Hải Y và Mai Huy S trong vụ án này.

Đối với đối tượng Nguyễn Văn T12 sau khi vụ việc xảy ra do T12 bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã. Hết thời hạn điều tra do chưa bắt được T12 nên cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số A6538 ngày 29/4/2025 đối với Nguyễn Văn T12 và các đối tượng có liên quan để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt Đào Trung H: 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù về tội về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/12/2024.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt Bùi Việt T: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/12/2024.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt Đàm Văn H5 : 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/12/2024.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt Lê Mạnh H2 : 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù về tội về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/12/2024.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Trần Thành K: 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù về tội về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/12/2024.

7. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy : 03 (ba) bạt nhựa; 06 (sáu) ghế nhựa xanh; 01 (một) bạt màu xanh kích thước 3x6m; 06 (sáu) cọc tre; 01 (một) lều; 02 (hai) chăn; 04 (bốn) gối; 01 (một) chiếu cói; 01 (một) vợt muỗi; 01 (một) bình nước dung tích 20 lít; 01 (một) ấm; 01 (một) bếp ga mi ni; 02 (hai) nồi; 20 (hai mươi) chén uống nước; 05 (năm) bát con; 01 (một) bát to; 04 (bốn) bình ga mi ni; 02 (hai) can rượu 20 lít; 01 (một) băng rôn màu đỏ kích thước 2x5 mét.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 02 (hai) mic hát karaoke; 01 (một) loa di động to; 01 (một) loa di động nhỏ.

9. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136, Điều 331, 333, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Các bị cáo Đào Trung H, Bùi Việt T, Đàm Văn H5, Lê Mạnh H2 và Trần Thành K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Đào Trung H, Bùi Việt T, Đàm Văn H5, Lê Mạnh H2 và Trần Thành K, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án đối với những phần liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án đối với những phần liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhân:

  • - VKSND quận Hoàng Mai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ.
  • - Lưu văn phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 176/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Đào Trung H: 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù về tội về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/12/2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger