|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 76/2025/HS-ST Ngày: 05-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;
- Ông Nguyễn Văn Hoàn.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ninh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 452/2025/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1978 tại tỉnh An Giang; thường trú: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; chỗ ở: Số A đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Phạm Hoàng L (đã chết) và bà Trần Thị D; bị cáo có 03 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1994; bị cáo có 03 con ruột, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/9/2024 bị Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 259/2024/HSST; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024 cho đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1986 tại tỉnh Ninh Thuận; thường trú: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1951; bị cáo có 07 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1990; bị cáo có chồng tên Phạm Hoàng H, sinh năm 1987, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 19/6/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1990; thường trú: Tổ A, thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
- Bà Võ Minh Thanh T2, sinh năm 1985; thường trú: Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1972; thường trú: Số B khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị T3; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị Ngọc T thuê nhà ở tại số A, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, Bình Dương. T là chị chồng của Nguyễn Thị Thu N. Do cả hai không có nghề nghiệp ổn định nên T và N bàn bạc để N nhận ghi bán số lô, số đề cho các con bạc tại thành phố P, tỉnh Bình Thuận rồi chuyển lại cho T hưởng tiền hoa hồng (01% trên tiền trúng lô đề, số đề).
Ngày 08/4/2024, Nguyễn Thị Thu N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, kiểu máy CPH2591, Zalo tên “Thu Nguyệt” đăng ký bằng số điện thoại 0926.550.xxx để nhận các con số lô, số đề từ các đối tượng Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1990; thường trú: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Võ Minh Thanh T2, sinh năm 1985; thường trú: Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Huỳnh Thị Thanh H2, sinh năm 1981; thường trú: Tổ E, khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận rồi chuyển cho T (sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu xanh, số seri: R58RC4JP2K, Zalo tên “Ngọc” đăng ký bằng số điện thoại 0927.592.xxx các con số lô, số đề; cụ thể như sau:
* Các đài xổ số miền N ngày 08/4/2024 (gồm 03 đài, trong đó, quy ước đài chính là Đồng T4, 02 đài phụ là Thành phố Hồ Chí Minh và đài Cà Mau. Nếu ghi 2 đài là đài Đồng Tháp với đài Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu ghi đài phụ là đài Thành phố Hồ Chí Minh), như sau: 3 đài: 62 đầu 50.000 đồng, đuôi 25.000 đồng; 2 đài: 71 bao lô 100.000 đồng, 91 bao lô 100.000 đồng; 2 đài: 30 bao lô 10.000 đồng; 3 đài: 38, 83, 35, 53 đầu 30.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; 3 đài: 81 bao lô 20.000 đồng; 3 đài: 78 bao lô 50.000 đồng; 2 đài: 38, 39 đầu đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 78, 79 đầu đuôi 100.000 đồng; 2 đài: 06, 46, 86 đầu đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 19 đầu đuôi 25.000 đồng; 59, 65, 32,93, 39, 33, 79, 72, 56, 73 đầu đuôi 15.000 đồng; 2 đài: 32 đầu 250.000 đồng, đuôi 150.000 đồng; 54 đầu 70.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 79 đầu đuôi 50.000 đồng, 30 đầu 50.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; đài chính: 28, 68 đầu đuôi 100.000 đồng; 3 đài: 86 đầu đuôi 200.000 đồng; 70, 79 đầu đuôi 100.000 đồng; đài chính: 47 đầu 300.000 đồng; đài chính: 82 đầu 50.000 đồng, đuôi 400.000 đồng; 2 đài: 32 đầu đuôi 150.000 đồng; 3 đài: 62 đầu 50.000 đồng, đuôi 25.000 đồng, bao lô 5000 đồng; đài chính: 14 đầu 130.000 đồng; 59 đầu 390.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; đài phụ: 59 đầu đuôi 30.000 đồng; đài chính: 32 đầu 150.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; đài thành phố Hồ Chí Minh: 32 đầu đuôi 30.000 đồng; 2 đài: 96 đầu 100.000 đồng, đuôi 25.000 đồng; 96 bao lô 10.000 đồng; 2 đài: 47 đầu 120.000 đồng, đuôi 15.000 đồng; 75 đầu 100.000 đồng, đuôi 25.000 đồng; 32, 49 đầu 40.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; đài chính: 28 đầu 70.000 đồng; 79 đầu 130.000 đồng, đuôi 60.000 đồng; 18 đầu 200.000 đồng, đuôi 100.000 đồng; đài Thành phố H: 18 đầu đuôi 50.000 đồng; 79 đầu đuôi 40.000 đồng; đài chính: 12, 55 đầu 25.000 đồng, đuôi 5.000 đồng; 2 đài: 86, 46 đầu đuôi 30.000 đồng; 3 đài: 07 đầu đuôi 100.000 đồng; bao lô 25.000 đồng; 2 đài: 32, 72 đầu đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 86 đầu đuôi 100.000 đồng; 2 đài: 28 đầu 250.000 đồng, đuôi 125.000 đồng; đài chính: 79 đầu 200.000 đồng, đuôi 40.000 đồng; đài phụ: 79 đầu đuôi 40.000 đồng; 2 đài: 79 đầu 150.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 28 đầu 50.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; đài chính: 28, 68 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 2 đài còn lại (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau): 28, 68 đầu đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 86 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 35, 68 đầu đuôi 20.000 đồng; đài chính: 96 đầu 250.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; 2 đài: 11 đầu 15.000 đồng, đuôi 150.000 đồng; đài Cà Mau: 40 đầu 350.000 đồng, đuôi 100.000 đồng; đài chính: 93 đầu 130.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài chính: 48 đầu 100.000 đồng; 59 đầu 470.000 đồng, đuôi 70.000 đồng; đài phụ: 59 đầu đuôi 70.000 đồng; đài Đồng tháp + Thành phố Hồ Chí Minh: 96 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài chính: 36 đầu 400.000 đồng, đuôi 200.000 đồng; đài chính: 16 đầu 150.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; đài phụ: 16 đầu 80.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; 2 đài: 32 đầu 130.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài phụ: 36 đầu đuôi 350.000 đồng; đài chính: 32, 72 đầu 500.000 đồng, đuôi 250.000 đồng; đài phụ: 32, 72 đầu đuôi 300.000 đồng; 2 đài: 68 đầu đuôi 100.000 đồng; 2 đài: 32 đầu đuôi 100.000 đồng; đài chính: 41, 67 đầu 60.000 đồng bỏ đuôi không đánh, 87 đầu 200.000 đồng bỏ đuôi không đánh; 2 đài: 29 đầu đuôi 160.000 đồng, 55 đầu đuôi 30.000 đồng, 67 bao lô 15.000 đồng; 3 đài: 23 bao lô 10.000 đồng; 2 đài: 23 đầu đuôi 40.000 đồng; 2 đài: 29 đầu 100.000 đồng, đuôi 60.000 đồng, 58 đầu 30.000 đồng, đuôi 15.000 đồng; đài chính: 28, 68 đầu 100.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; đài phụ 28, 68 đầu đuôi 20.000 đồng; 2 đài: 35, 75, 53 đầu đuôi 50.000 đồng; đài chính 79 đầu 200.000 đồng; đài phụ 79 đầu 50.000 đồng; đài chính: 42 đầu 100.000 đồng, đuôi 5.000 đồng; đài phụ 58 đầu đuôi 150.000 đồng; đài chính 58 đầu đuôi 50.000 đồng; đài chính: 65 đầu 450.000 đồng, đuôi 5.000 đồng; đài phụ: 32, 74, 55 đầu 10.000 đồng 30.000 đồng; đài chính: 32, 74, 55 đầu đuôi 10.000 đồng; 2 đài: 86 đầu đuôi 280.000 đồng; 79 đầu 150.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài chính: 65 đầu 80.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; đài phụ: 65 đầu đuôi 20.000 đồng; 25 đầu 25.000 đồng, đuôi 5.000 đồng; đài chính: 51 đầu 200.000 đồng, đuôi 100.000 đồng; 68, 79 đầu đuôi 100.000 đồng; 2 đài: 28, 68 đầu đuôi 200.000 đồng; đài phụ: 68 đầu 300.000 đồng, đuôi 150.000 đồng; 59 đầu 150.000 đồng, đuôi 75.000 đồng; 2 đài: 79 đầu đuôi 50.000 đồng; đài chính: 11 đầu 500.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; đài phụ: 28, 68 đầu đuôi 300.000 đồng; đài chính: 28 đầu 200.000 đồng, đuôi 500.000 đồng, 68 đầu đuôi 150.000 đồng; 2 đài: 79 đầu 400.000 đồng, đuôi 300.000 đồng; 3 đài: 79 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 32 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài chính: 62, 75 đầu 500.000 đồng, đuôi 250.000 đồng; bao lô 500.000 đồng; đài chính: 28, 68 đuôi 50.000 đồng; 32, 72, 62 đuôi 30.000 đồng; đài chính: 79 đầu 50.000 đồng, đuôi 10.000 đồng, đài phụ: 79 đầu đuôi 10.000 đồng; 2 đài: Sổ chủ 272, 727 đầu đuôi 5.000 đồng; 72 đầu đuôi 30.000 đồng; đài chính: 16 đầu đuôi 30.000 đồng; 86 đầu 50.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; 46 đầu đuôi 20.000 đồng; 55, 28 đầu đuôi 15.000 đồng, 61 đầu 30.000 đồng, đuôi 10.000 đồng, 40 đầu 15.000 đồng, đuôi 25.000 đồng; đài phụ 55, 61, 86 đầu 30.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; 46 đầu 30.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; 28 đầu đuôi 30.000 đồng; 40 đầu đuôi 15.000 đồng; 16 đầu đuôi 30.000 đồng; 2 đài: 89 đầu đuôi 160.000 đồng; 2 đài phụ: 52 đầu 30.000 đồng, đuôi 15.000 đồng; 2 đài: 35, 75 đầu 300.000 đồng, đuôi 150.000 đồng; đài chính: 28 đầu đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 68 đầu 50.000 đồng đuôi 25.000 đồng; 2 đài: 79 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài chính: 96 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài chính: 60 đầu 80.000 đồng, đuôi 40.000 đồng; 76 đầu 150.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 24, 30 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 3 đài: 53 đầu đuôi 20.000 đồng; 53 bao lô 2.500 đồng; 2 đài: 07 đầu đuôi 100.000 đồng; đài chính: 07 đầu 70.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 07 đầu 25.000 đồng, đuôi 12.500 đồng; đài chính: 29 đầu 200.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; 86, 12 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài phụ: 72 đầu 200.000 đồng, đuôi 100.000 đồng; 86, 12 đầu 50.000 đồng, đuôi 25.000 đồng; 2 đài: 86 đầu đuôi 80.000 đồng, 3 đài: 12 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài Đồng Tháp: 14 đầu 700.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài Đồng Tháp: 79 đầu 300.000 đồng, đuôi 100.000 đồng; 3 đài: 35, 75, 32, 72 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài chính: 91 đầu đuôi 300.000 đồng; 94, 44 đầu đuôi 500.000 đồng; 2 đài: 79 đầu đuôi 30.000 đồng; đài Cà Mau: 79 đầu đuôi 20.000 đồng; đài chính: 72 đầu 80.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; đài phụ: 72 đầu đuôi 20.000 đồng; 2 đài: 27 đầu đuôi 25.000 đồng; đài chính: 68 đầu 700.000 đồng, đuôi 200.000 đồng; đài phụ: 68 đầu 300.000 đồng, đuôi 150.000 đồng; 2 đài: 68 đầu đuôi 100.000 đồng; đài chính: 79 đầu đuôi 200.000 đồng; đài chính: 57 đầu 40.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; đài phụ: 57 đầu đuôi 20.000 đồng; đài chính: 86, 30, 33, 94, 40, 80 đầu 25.000 đồng, đuôi 5.000 đồng; 3 đài: 68 đầu 500.000 đồng, đuôi 500.000 đồng; bao lô 500.000 đồng; 2 đài: 79 bao lô 5.000 đồng; 2 đài: 06 đầu đuôi 250.000 đồng; đài chính: 74, 79, 32 đầu 100.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; 72, 32 đầu 50.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; 2 đài: 63 đầu 150.000 đồng, đuôi 75.000 đồng; 3 đài: 62, 75 đầu 300.000 đồng, đuôi 300.000 đồng; bao lô 500.000 đồng; 2 đài: 79 đầu đuôi 80.000 đồng; 86 đầu đuôi 50.000 đồng; đài chính: 32 đầu đuôi 150.000 đồng; 2 đài: 86 đầu đuôi 100.000 đồng; đài chính: 74 đầu 70.000 đồng, đuôi 160.000 đồng; đài phụ: 74 đầu 350.000 đồng, đuôi 80.000 đồng; 2 đài: 72 đầu 120.000 đồng, đuôi 100.000 đồng; đài Cà Mau: 72 đầu đuôi 10.000 đồng; 2 đài: 32 đầu đuôi 100.000 đồng; đài chính: 25 đầu 80.000 đồng, đuôi 40.000 đồng; đài phụ: 25 đầu đuôi 40.000 đồng; 43 đầu 100.000 đồng bỏ đuôi không đánh; 2 đài: 32, 28 đầu 25.000 đồng; đài chính: 18 đầu 30.000 đồng, đuôi 300.000 đồng; 2 đài: 62 đầu đuôi 50.000 đồng; 86 đầu 150.000 đồng, đuôi 100.000 đồng; 32 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 28 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài chính: 72 đầu đuôi 100.000 đồng; 2 đài: 32 đầu đuôi 100.000 đồng; đài phụ: 86 đầu 20.000 đồng, đuôi 150.000 đồng; đài chính: 63 đầu 80.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; đài phụ 63 đầu đuôi 50.000 đồng; đài chính: 32, 74, 55 đầu 30.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; 2 đài: 32 đầu đuôi 50.000 đồng; 25 đầu đuôi 30.000 đồng; đài chính: 25, 65, 28, 68 đầu 30.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; đài phụ: 21 đuôi 200.000 đồng bỏ đầu không đánh; đài Cà Mau: 21 đầu đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 79 đầu 25.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 3 đài: 19, 59, 99, 32, 72 đầu 25.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; 2 đài: 76-07 đá 3.000 đồng; 97, 76 đầu đuôi 25.000 đồng; 2 đài: 21 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 86 đầu đuôi 100.000 đồng; 32, 72, 68 đầu đuôi 80.000 đồng; 28 đầu đuôi 100.000 đồng; 64 đầu đuôi 70.000 đồng; đài chính 79 đầu 50.000 đồng, đuôi 26.000 đồng; đài chính 36, 70 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 49 đầu đuôi 250.000 đồng; 3 đài: 75, 76 đầu đuôi 25.000 đồng; 2 đài: 62 đầu 40.000 đồng, đuôi 25.000 đồng; 32 đầu 20.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; 72 đầu đuôi 10.000 đồng; 3 đài: 79 đầu đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 57 đầu đuôi 100.000 đồng; 2 đài: 79, 97 đầu 50.000 đồng, đuôi 25.000 đồng; đài chính: 71, 89 đầu 50.000 đồng và 3 đài: 59, 68 đầu đuôi 50.000 đồng;
Kết quả:
- Đài Đ: 78 bao lô 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng; 68 đầu đuôi 100.000 đồng trúng 6.000.000 đồng; 68 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng; 68 đầu đuôi 20.000 đồng trúng 1.200.000 đồng; 68 đầu đuôi 100.000 đồng trúng 6.000.000 đồng; 68 đầu 100.000 đồng, đuôi 20.000 đồng trúng 1.200.000 đồng; 68 đầu đuôi 100.000 đồng trúng 6.000.000 đồng; 68 đầu đuôi 200.000 đồng trúng 12.000.000 đồng; 68 đầu đuôi 150.000 đồng trúng 9.000.000 đồng; 68 đầu đuôi 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng; 68 đầu 50.000 đồng, đuôi 25.000 đồng trúng 1.500.000 đồng; 94 đầu đuôi 500.000 đồng trúng 30.000.000 đồng; 68 đầu 700.000 đồng đuôi 200.000 đồng trúng 12.000.000 đồng; 68 đầu đuôi 100.000 đồng trúng 6.000.000 đồng; 94 đầu 25.000 đồng, đuôi 5.000 đồng trúng 1.500.000 đồng; 68 đầu đuôi 500.000 đồng trúng 30.000.000 đồng; 68 đuôi 500.000 đồng trúng 30.000.000 đồng; 68 đầu 30.000 đồng đuôi 10.000 đồng trúng 600.000 đồng; 68 đầu đuôi 80.000 đồng trúng 4.800.000 đồng; 68 đầu đuôi 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng.
- Đài Thành phố H: 91 bao lô 100.000 đồng trúng 6.000.000 đồng; 35 đầu 30.000 đồng, đuôi 20.000 đồng trúng 1.800.000 đồng; 35 đầu đuôi 20.000 đồng trúng 1.200.000 đồng; 35 đầu đuôi 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng; 35 đầu 300.000 đồng, đuôi 150.000 đồng trúng 18.000.000 đồng; 35 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng trúng 6.000.000 đồng;
- Đ: 07 bao lô 25.000 đồng trúng 1.500.000 đồng; 21 đầu 50.000 đồng, đuôi 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng.
Tổng số tiền mua lô đề, số đề đài Đồng Tháp (ngày 08/4/2024) là 94.531.500 đồng, số tiền trúng lô đề, số đề là 169.800.000 đồng (bút lục 141-145).
Tổng số tiền mua lô đề, số đề đài Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 08/4/2024) là 62.325.500 đồng, số tiền trúng lô đề, số đề là 36.000.000 đồng (bút lục 146-149).
Tổng số tiền mua lô đề, số đề đài Cà Mau (ngày 08/4/2024) là 34.995.000 đồng, số tiền trúng lô đề, số đề là 4.500.000 đồng (bút lục 150).
Tổng số tiền mua số đề, lô đề là 191.852.000 đồng; Tổng số tiền trúng đề, lô đề là 210.300.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc các đài xổ số miền N trong ngày 08/4/2024 giữa bị cáo T và N là 402.152.000 đồng.
* Các đài xổ số Miền Trung ngày 08/4/2024 (gồm 02 đài là đài Phú Yên và đài T - T) cụ thể như sau: 2 đài: 71 bao lô 50.000 đồng, 91 bao lô 50.000 đồng; 2 đài: 62 bao lô 10.000 đồng; 2 đài: 15, 51 bao lô 5.000 đồng, 23 đầu đuôi 20.000 đồng, 96 đầu 50.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; 2 đài: 77, 79, 97 đầu đuôi 10.000 đồng; 2 đài: 24 đầu đuôi 20.000 đồng; 47, 46, 64, 94 đầu đuôi 5.000 đồng; 13, 15, 51 đầu đuôi 5.000 đồng; 724, 764, 647 bao lô 500 đồng tương ứng 9.000 đồng; 2 đài: 21 đầu 50.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; 2 đài: 12 đầu 100.000 đồng, đuôi 60.000 đồng; 2 đài: 52 đầu 100.000 đồng, đuôi 60.000 đồng; 2 đài: 94 đầu đuôi 100.000 đồng, bao lô 25.000 đồng; 2 đài: 56 bao lô 20.000 đồng; 2 đài: 68 đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; 2 đài: 78 đầu 50.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; 2 đài: 86, 32, 79, 89 đầu, đuôi 20.000 đồng; 2 đài: 68 đầu, đuôi 200.000 đồng; 2 đài: 32, 89 đầu, đuôi 200.000 đồng;2 đài: 28 đầu, đuôi 100.000 đồng; 2 đài: 72 bao lô 50.000 đồng; 2 đài: 65 đầu 150.000 đồng, đuôi 75.000 đồng; 2 đài: 39, 79 đầu, đuôi 25.000 đồng; 2 đài: 86 đầu 50.000 đồng, đuôi 25.000 đồng; 2 đài: 19, 59, 99 đầu, đuôi 10.000 đồng; 2 đài: 29 đầu 50.000 đồng, đuôi 25.000 đồng;
Kết quả:
- Đài P: 71 bao lô 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng; 62 bao lô 10.000 đồng trúng 600.000 đồng; 59 đầu đuôi 10.000 đồng trúng 600.000 đồng.
- Đài Thừa Thiên H3: 71 bao lô 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng; 91 bao lô 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng; 51 bao lô 500 đồng trúng 300.000 đồng; số 21 đầu 50.000 đồng, đuôi 10.000 đồng trúng 3.000.000 đồng; 72 bao lô 50.000 đồng trúng 3.000.000 đồng; 72 đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng trúng 600.000 đồng.
Tổng số tiền mua lô đề, số đề đài P (ngày 08/4/2024) là 7.472.000 đồng, số tiền trúng lô đề, số đề là 4.200.000 đồng (bút lục 151-152).
Tổng số tiền mua lô đề, số đề đài Thừa Thiên - Huế (ngày 08/4/2024) là 7.472.000 đồng, số tiền trúng lô đề, số đề là 12.900.000 đồng (bút lục 153).
Tổng tiền mua số đề, lô đề đài miền T là 14.944.000 đồng. Tổng số tiền trúng số đề, lô đề đài miền T5 là 17.100.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc các đài xổ số miền T trong ngày 08/4/2024 giữa bị cáo T và bị N là 32.044.000 đồng.
* Đài xổ số Miền Bắc ngày 08/4/2024, cụ thể như sau: 91-93-86 bao lô 1.500 đồng tương ứng 243.000 đồng; 73, 75 đầu đuôi 10.000 đồng; 71, 92 đầu đuôi 15.000 đồng; 07, 70, 30 đầu, đuôi 5.000 đồng; 07-47-87 đá 2.000 đồng tương ứng 324.000 đồng, 87 đầu đuôi 10.000 đồng; 29 đầu đuôi 50.000 đồng; 23 bao lô 20.000 đồng; 10-90 đá 5.000 đồng tương ứng 270.000 đồng; 10-91 đá 5.000 đồng tương ứng 270.000 đồng; 11-90 đá 5.000 đồng tương ứng 270.000 đồng; 11- 91 đá 5.000 đồng tương ứng 270.000 đồng; 53, 35 đầu đuôi 5.000 đồng; 60, 90, 20 đầu đuôi 5.000 đồng;
Kết quả: 07-47-87 bao lô 2.000 đồng trúng 1.280.000 đồng.
Tổng số tiền sử dụng đánh bạc đài xổ số miền B trong ngày 08/4/2024 giữa bị cáo T và N là 4.217.000 đồng.
Tổng số tiền mua lô đề, số đề là 206.796.000 đồng. Tổng số tiền trúng số đề, lô đề là 227.400.000 đồng.
Khi có kết quả xổ số, Nguyễn Thị Thu N tính toán ăn thua với con bạc rồi gửi kết quả cho Phạm Thị Ngọc T để thanh toán tiền. T (sử dụng số tài khoản 0371000454180 tên Phạm Thị Ngọc T, ngân hàng V) thanh toán số tiền thắng thua các con số lô, số đề trong ngày 08/4/2024 cho N (sử dụng số tài khoản 050073938152 tên Nguyễn Thị Thu N, ngân hàng S).
* Căn cứ Kết luận giám định số: 3316/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B tại mục V kết luận về đối tượng giám định như sau:
- Mẫu vật ký hiệu A1 trích xuất được:
- 182 tin nhắn Zalo giữa tài khoản "N2" với tài khoản tên "Thu N" (Inner ID: 402073619).
- Mẫu vật ký hiệu A2 (Trích xuất tin nhắn trong ứng dụng Zalo giữa tài khoản “Thu N” với các tài khoản tên “Bé N1”, “Thảo Chích” và “C 9”): Không tìm thấy nội dung theo yêu cầu của cơ quan trưng cầu.
- Mẫu vật ký hiệu A3 (Trích xuất tin nhắn trong ứng dụng Zalo giữa tài khoản “Tn” với các tài khoản Zalo tên “Chị T”, “N2”, “Bé N1”, “Thảo Chích” và “C 9”): Không tìm thấy nội dung theo yêu cầu của cơ quan trưng cầu.
Ngày 11/4/2024, phát hiện Phạm Thị Ngọc T có hành vi cùng Nguyễn Thị Thu N tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề. Ngày 12/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiến hành bắt khẩn cấp Nguyễn Thị Thu N khi N đang ở nhà tại xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên, khi biết Cơ quan Công an bắt giữ T thì N và những người ghi số đề Nguyễn Thị Bích N1, Huỳnh Thị Thanh H2, Võ Minh Thanh T2 đã xóa hết tin nhắn.
* Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu xanh, số seri: R58RC4JP2K, gắn sim số 0927.592.987 của Phạm Thị Ngọc T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A95 màu xanh, kiểu máy: CPH2365, gắn sim số: 0917418967 của Nguyễn Thị Thu Nguyệt N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, kiểu máy: CPH2591, gắn sim số: 0926.550.956 của Nguyễn Thị Thu N.
- Đối với bà Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1990; thường trú: Tổ A, Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; bà Võ Minh Thanh T2, sinh năm 1985; thường trú: Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khai nhận có mua các lô đề, số đề của bị cáo N nhưng cả 02 đều không nhớ các con số cụ thể đã xóa các tin nhắn, điện thoại đã mất, không phục hồi được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Đối với đối tượng bà Huỳnh Thị Thanh H2, sinh năm 1981; thường trú: Tổ E, khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận hiện đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định truy tìm, tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ xử lý sau.
- Đối với các tin nhắn Zalo đã xóa của các bị cáo và các đối tượng có liên quan, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã nhiều lần gửi công văn đề nghị Công ty Cổ phần V1 phục hồi các tin nhắn nhưng chưa có kết quả trả lời.
- Đối với căn nhà số A, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, Bình Dương là do bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1972; thường trú: Số B khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương đứng tên sở hữu. Bà H1 cho Phạm Thị Ngọc T thuê để ở từ năm 2021, bà H1 không biết T tổ chức đánh bạc tại nhà của bà H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương không đề cập xử lý.
- Đối với lần mua đề số đề đài Miền B với số tiền là 4.217.000 đồng, chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên Công an thành phố D ra Quyết định xử phạt hành chính bị cáo Phạm Thị Ngọc T và Nguyễn Thị Thu N theo quy định tại Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Tại Cáo trạng số: 34/CT-VKS-DA ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Phạm Thị Ngọc T, Nguyễn Thị Thu N bị truy tố về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc T với mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, p khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N với mức hình phạt từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu xanh, số seri: R58RC4JP2K, gắn sim số 0927.592.987 của Phạm Thị Ngọc T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A95 màu xanh, kiểu máy: CPH2365, gắn sim số: 0917418967 của Nguyễn Thị Thu N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, kiểu máy: CPH2591, gắn sim số: 0926.550.956 của Nguyễn Thị Thu N; các bị cáo sử dụng điện thoại vào việc phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước đối với các điện thoại di động và tịch thu tiêu hủy đối với các sim số.
- Buộc Nguyễn Thị Thu N giao nộp số tiền mua lô đề, số đề 206.796.000 đồng, để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, buộc bị cáo N là giao nộp số tiền 2.274.000 đồng (01% hoa hồng T đã trả cho N), để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Buộc bị cáo Phạm Thị Ngọc T giao nộp số tiền trúng số đề, lô đề 227.400.000 đồng, để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng đồng thời các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo; biên bản bắt tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; người làm chứng và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 8/4/2024, tại nhà số A, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương và tại xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Phạm Thị Ngọc T và Nguyễn Thị Thu N “Tổ chức đánh bạc” với hình thức mua bán lô đề, số đề của đài miền N với số tiền 402.152.000 đồng, đài miền T với số tiền 32.044.000 đồng.
[3] Như vậy, hành vi trên của các bị cáo T và N bàn bạc để N nhận ghi bán số lô, số đề cho các con bạc tại thành phố P, tỉnh Bình Thuận rồi chuyển lại cho T hưởng tiền hoa hồng, đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Tổ chức đánh” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 34/CT-VKS-DA ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Trong vụ án đánh bạc có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Trong vụ án vai trò của bị cáo T là cao hơn bị cáo N.
[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên; bị cáo N khi nghe bị cáo T bị bắt thì bị cáo N xóa hết dữ liệu tin nhắn trên điện thoại (che dấu tội phạm). Đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo N có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[8] Về nhân thân: Bị cáo T là người đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Đánh bạc”; bị cáo N là người chưa có tiền án, tiền sự nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[9] Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
+ Xét các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội đồng thời bị cáo T đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Đánh bạc”, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung. Để đảm bảo cho việc thi hành án nên cần áp dụng Quyết định bảo lĩnh số: 04/2025/HSST-QĐBL ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu N.
Bị cáo Phạm Thị Ngọc T bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 259/2024/HS-ST, bản án đã có hiệu lực pháp luật nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo T.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[10] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu xanh, số seri: R58RC4JP2K, gắn sim số 0927592987 của Phạm Thị Ngọc T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A95 màu xanh, kiểu máy: CPH2365, gắn sim số: 0917418967 của Nguyễn Thị Thu N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, kiểu máy: CPH2591, gắn sim số: 0926.550.956 của Nguyễn Thị Thu N; các bị cáo sử dụng điện thoại vào việc phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước đối với các điện thoại di động và tịch thu tiêu hủy đối với các sim số.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu N giao nộp số tiền mua lô đề, số đề 206.796.000 đồng, để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, buộc bị cáo N là phải nộp số tiền 2.274.000 đồng (01% hoa hồng T đã trả cho N), để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Buộc bị cáo Phạm Thị Ngọc T giao nộp số tiền trúng số đề, lô đề 227.400.000 đồng, để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
[11] Đối với bà Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1990; thường trú: Tổ A, Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; bà Võ Minh Thanh T2, sinh năm 1985; thường trú: Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khai nhận có mua các lô đề, số đề của bị cáo N nhưng cả 02 đều không nhớ các con số cụ thể đã xóa các tin nhắn, điện thoại đã mất, không phục hồi được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau; đối với đối tượng bà Huỳnh Thị Thanh H2, sinh năm 1981; thường trú: Tổ E, khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận hiện đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định truy tìm, tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ xử lý sau; đối với các tin nhắn Zalo đã xóa của các bị cáo và các đối tượng có liên quan, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã nhiều lần gửi công văn đề nghị Công ty Cổ phần V1 phục hồi các tin nhắn nhưng chưa có kết quả trả lời; đối với căn nhà số A, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, Bình Dương là do bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1972; thường trú: Số B khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương đứng tên sở hữu. Bà H1 cho Phạm Thị Ngọc T thuê để ở từ năm 2021, bà H1 không biết T tổ chức đánh bạc tại nhà của bà H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương không đề cập xử lý; đối với lần mua đề số đề đài Miền B với số tiền là 4.217.000 đồng, chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên Công an thành phố D ra Quyết định xử phạt hành chính các bị cáo Phạm Thị Ngọc T và Nguyễn Thị Thu N theo quy định tại Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, là đúng theo quy định của pháp luật.
[12] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo N, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Còn mức hình phạt đối với bị cáo T, xét tính chât mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ngọc T, Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
1.1 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 259/2024/HS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 11/4/2024.
1.2 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, p khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến ngày 19/6/2024.
1.3 Áp dụng Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tiếp tục áp dụng Quyết định bảo lĩnh số: 04/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, kể từ khi tuyên án đến khi bị cáo Nguyễn Thị Thu N đi chấp hành án phạt tù.
2. Về biện pháp tư pháp xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu xanh, số seri: R58RC4JP2K; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A95 màu xanh, kiểu máy: CPH2365; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, kiểu máy: CPH2591.
- Tịch thu tiêu hủy các sim số 0927592987, 0917418967, 0926550956.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu N giao nộp số tiền mua lô đề, số đề và tiền thu lợi bán lô đề, số đề với tổng số tiền 209.070.000 đồng, để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Buộc bị cáo Phạm Thị Ngọc T giao nộp số tiền trúng số đề, lô đề 227.400.000 đồng, để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Phạm Thị Ngọc T, Nguyễn Thị Thu N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự: tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 76/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức ghi, bán số đề
