Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2024/HS-ST

Ngày 16 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng

Ông Phạm Công Lương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Bùi Đức C (tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam. Sinh ngày: 06/9/2001 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ E phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở: 1 N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Bùi T (sinh năm 1970) và mẹ Vũ Thị H (sinh năm 1974). Gia đình có 02 anh, em. Bị cáo là con thứ 02. Vợ: Ksorh Mỹ (sinh năm 2000), có 01 con sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25.6.2024 (hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Đà Nẵng). Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa của bị cáo Bùi Đức C: Bà Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1992 – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ. (Có mặt).

2. Nguyễn Ngô Huy . Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 01/01/1997 tại Quảng Nam. Nơi thường trú: Tổ C phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở: D H M, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 11/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Cha: Nguyễn Ngô T1 (sinh năm 1970) và mẹ: Trần Thị Kim T2 (sinh năm 1975). Gia đình có 03 anh, em. Bị cáo là con thứ 01.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26.6.2024 (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ). Có mặt tại phiên tòa.

3. Phạm Huy T3. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 04/01/1997 tại Quảng Ngãi. Nơi thường trú: Thôn K, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Chỗ ở: D H M, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Cha: Phạm Đình V (sinh năm 1961) và mẹ: Nguyễn Thị T4 (sinh năm 1963). Gia đình có 02 anh, em. Bị cáo là con thứ 01. Vợ: Nguyễn Hoàng Vân A (sinh năm 1995).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26.6.2024 (hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Đà Nẵng). Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Đức C1, sinh năm 1996. Chỗ ở: 1 N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

- Người chứng kiến: Ông Lê Văn T5, sinh năm 1960. Chỗ ở hiện nay: Tổ G, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 25.6.2024, tại trước nhà số G đường X, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận H phát hiện Bùi Đức C đang ngồi trên xe môtô Wave, màu trắng, BKS: 43G1-549.75 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác ngoài bên phải của C có 01 gói nilông kích thước (4x7,5)cm bên trong có chứa 01 gói nilông kích thước (4x4)cm có chứa 07 viên nén màu xanh (ký hiệu A1) và 02 gói nilông kích thước (4x4)cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu Ab). C khai nhận viên nén màu xanh là ma túy thuốc lắc và tinh thể rắn màu trắng là ma túy Ketamine của Nguyễn Ngô H1 đưa C mang đi bán cho khách nhưng chưa kịp giao thì bị bắt.

Đến 23 giờ 25 phút ngày 25.6.2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà số D, H M, P. H, Q. L, TP . phát hiện thu giữ của Nguyễn Ngô H1:

- Tại ngăn dưới bên phải tủ quần áo trong phòng ngủ có: 01 túi giấy màu trắng có chữ “Trường Phát store”, bên trong chứa:

+ 01 gói nilông màu trắng, kích thước (7,5x4,5)cm, bên trong chứa 07 viên nén màu vàng, ký hiệu Ala;

+ 03 gói nilông màu trắng, kích thước (4x4)cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, ký hiệu Alb;

+ 01 gói nilông màu trắng, được hàn ở phần giữa, kích thước (4x2,5)cm, bên trong chứa chứa tinh thể rắn màu trắng, ký hiệu Alb;

+ 01 gói nilông màu đỏ, có chữ Ferrari, kích thước (9x6)cm, bên trong chứa chất bột màu cam, ký hiệu Alc;

+ 01 cân điện tử hình con chuột máy tính, màu đen, có dòng chữ Maese Scale, kích thước (10,5x6)cm;

+ 01 bao nilông màu trắng, kích thước (18x12)cm, bên trong chứa 50 gói nilông màu trắng, kích thước (4x4)cm, chưa qua sử dụng.

- Tại vị trí trên nệm ngủ trong phòng phát hiện thu giữ 01 tờ giấy khổ A4, có ghi chữ và số bằng mực xanh có nội dung liên quan đến việc mua bán ma tuý.

Đến 00 giờ 30 phút ngày 26.6.2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của Bùi Đức C tại K N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, không phát hiện, thu giữ gì.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Bùi Đức C:

+ 01 điện thoại di động màu trắng, có chữ S, imeil: 356452735920376, imei2: 356546965920376, gắn sim số 0377.410.715;

+ 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS 43G1-549.75, số khung: RLHJAS934PY061296, số máy: JA70E-008G037.

- Thu giữ của Nguyễn Ngô H1: 01 điện thoại di động Iphone, màu xanh, số imei: 353236108719405, số imei 2: 353236107887203, gắn sim số: 0393.281.173;

- Thu giữ của Phạm Huy T3: 01 điện thoại di động Iphone 12, số imeil: 352281794654970, số imei2: 35228179465497, gắn sim số: 0366.456.705.

- 03 đĩa chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh quá trình hỏi cung bị can H1, C, T3.

* Kiểm tra dữ liệu điện tử:

- Điện thoại di động màu trắng, có chữ S, imeil: 356452735920376, imei2: 356546965920376, gắn sim số 0377.410.715 của Bùi Đức C phát hiện trong ứng dụng Zalo thể hiện cuộc gọi giữa C và T3, T3 nhắn số điện thoại người mua cho C liên hệ; 04 cuộc gọi đi đến giữa C và người mua ma tuý có số điện thoại 0562.103.xxx.

- Điện thoại di động Iphone, màu xanh, số imei: 353236108719405, số imei 2: 353236107887203, gắn sim số: 0393.281.173 của Nguyễn Ngô H1 phát hiện:

+ 01 cuộc gọi với Phạm Huy T3 vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 25.6.2024 (thời lượng 08 giây);

+ Qua ứng dụng Zalo có 04 cuộc gọi đi đến với Bùi Đức C từ 18 giờ 41 phút đến 20 giờ 36 phút ngày 25.6.2024.

Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trọng cơ thể, Bùi Đức C, Nguyễn Ngô H1 và Phạm Huy T3 đều dương tính với chất ma tuý.

Quá trình điều tra, xác định được như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên từ tháng 3 năm 2024, Nguyễn Ngô H1 bắt đầu mua ma túy về sử dụng. Tháng 5 năm 2024, H1 xin ở nhờ nhà của Phạm Huy T3 tại công ty S1 - địa chỉ D H, phường H, quận L, TP .. Đến đầu tháng 6 năm 2024, do cần tiền chi tiêu, sinh hoạt cá nhân, H1 nảy sinh việc mua bán trái phép chất ma túy, H1 nói Bùi Đức C (là nhân viên giao hàng Phạm Huy T3) giao ma tuý cho H1 để được hưởng tiền công từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng và nhờ T3 có người mua thì giới thiệu cho H1.

Khoảng đầu tháng 6 năm 2024, thông qua ứng dụng Telegram (không nhớ rõ họ tên, số điện thoại chủ tài khoản) H1 mua 01 hộp 10 ketamine, 20 viên thuốc lắc và 01 gói ma tuý nước vui với giá 15.000.000 đồng, thống nhất giao, nhận ma tuý tại đường T, TP . (không nhớ rõ địa chỉ cụ thể). H1 cất giấu ma tuý trong tủ quần áo trong phòng ngủ của nhà số D H, TP ., T3 biết nhưng không nói gì.

Khi có khách liên hệ mua ma túy H1 chuẩn bị sẵn ma túy theo yêu cầu của khách và đưa ma túy cho C trước Công ty D1, TP . và đưa số điện thoại người mua để C tự liên hệ địa điểm giao; người mua sẽ liên hệ H1 trả tiền. H1 đã đưa ma túy cho C đi bán được 08 lần, cụ thể:

- Lần 1, 2, 3, 4: Tối các ngày 12, 14, 15, 16.6.2024, H1 đưa ma túy thuốc lắc, ketamine (không nhớ rõ số lượng) cho C giao đến quán bar B, đường T, TP . cho người mua (không rõ nhân thân, lai lịch), H1 trả cho C 500.000 đồng/ lần, thu lợi 1.000.000 đồng/lần.

- Lần 5: khoảng 19 giờ ngày 21.6.2024, H1 đưa ma túy thuốc lắc, ketamine (không nhớ rõ số lượng) cho C giao đến đường H (không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) cho người mua (không rõ nhân thân, lai lịch), H1 trả cho C 300.000 đồng, thu lợi 1.000.000 đồng.

- Lần 6, 7: khoảng 21 giờ ngày 21, 24.6.2024, H1 đưa ma túy thuốc lắc, ketamine (không nhớ rõ số lượng) cho C giao đến quán bar B, đường T, TP . cho người mua (không rõ nhân thân, lai lịch), H1 trả cho C 500.000 đồng/ lần, thu lợi 1.000.000 đồng/lần.

- Lần 8: Đến khoảng 20 giờ ngày 25.6.2024, T3 đang ở công ty D H M, phường H, quận L, TP . thì có số điện thoại 0562.103.xxx liên hệ T3 hỏi về việc mua 07 viên ma túy thuốc lắc và một hộp 5 ma tuý ketamine với giá 8.500.000 đồng nên T3 gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho H1 nói có người liên hệ mua ma túy thì H1 nói T3 liên hệ với C. Sau đó, H1 nói C vào phòng ngủ lấy ma tuý, C cất ma tuý vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi đến trước số nhà G X, phường H, TP . nhưng chưa kịp giao thì bị bắt quả tang như nêu trên.

Theo Kết luận giám định số 509/KL-KTHS ngày 03.7.2024 của Phòng K Công an thành phố Đ, kết luận:

- Các viên nén màu xanh ký hiệu Aa và các viên nén màu vàng ký hiệu Ala gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine và MDMA; khối lượng mẫu Aa: 3,162 gam; mẫu Ala: 3,126 gam;

- Tinh thể rắn màu trắng trong các gói nilông ký hiệu A2 và Alb gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine; khối lượng mẫu Ab: 3,106 gam; mẫu Alb: 3,910 gam;

- Chất bột màu cam trong 01 gói nilông màu đỏ có chữ Ferrari ký hiệu Alc gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, 2C-B, Ketamine và N; khối lượng mẫu Alc: 3,884 gam.

H2 lại đối tượng giám định: Toàn bộ mẫu vật và vỏ bao gói được hoàn lại theo “Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định” ngày 27.6.2024.

Theo Kết luận giám định số 1834/KL-KTHS ngày 21.8.2024 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C2:

- Chất bột màu cam (ký hiệu Alc) gửi giám định có hàm lượng Methamphetamine là 0,1%; Ketamine là 2,5%; Nimetazepam là 0,5%; 2C-B ở dạng vết (hàm lượng thấp dưới giới hạn định lượng của phương pháp) nên không xác định được hàm lượng.

Do đó, khối lượng: Methamphetamine: 0,0 03884 gam, Ketamine: 0,0971gam; Nimetazepam: 0,01942 gam.

H2 lại đối tượng giám định: Toàn bộ mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả được niêm phong trong phong bì số 1834/KL-KTHS.

Căn cứ khoản 2, 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02.02.2018 quy định về việc tính khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của BLHS, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy thu giữ trong vụ án mà các bị can phải chịu trách nhiệm hình sự:

- Nguyễn Ngô H1, Phạm Huy T3: (3,162+3,126+0,003884)/30 x 100% + (3,106+3,910+0,0971+0,01942)/100 x 100% = 28,1% dưới 100% nên tổng khối lượng các chất ma túy trong trường hợp này thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

- Bùi Đức C: 3,162/5 x 100% + 3,106/20 x 100% = 78,77% dưới 100% nên tổng khối lượng các chất ma túy trong trường hợp này thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng:

- Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu để bảo quản trong giai đoạn xét xử và thi hành án:

+ Toàn bộ mẫu vật và vỏ bao gói được hoàn lại theo “Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định” ngày 27.6.2024; toàn bộ mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả được niêm phong trong phong bì số 1834/KL-KTHS.

+ 01 cân điện tử hình con chuột máy tính, màu đen, có dòng chữ Maese Scale, kích thước (10,5x6)cm;

+ 01 bao nilông màu trắng, kích thước (18x12)cm, bên trong chứa 50 gói nilông màu trắng, kích thước (4x4)cm, chưa qua sử dụng.

+ 03 điện thoại thu giữ của Bùi Đức C, Nguyễn Ngô H1, Phạm Huy T3 như nêu trên.

- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án:

+ 01 tờ giấy khổ A4, có ghi chữ và số bằng mực xanh có nội dung liên quan đến việc mua bán ma tuý;

+ 03 đĩa chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh quá trình hỏi cung bị can H1, C, T3.

- Đối với xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS 43G1-549.75, số khung: RLHJAS934PY061296, số máy: JA70E-008G037 thuộc sở hữu của ông Bùi Đức C1 (sinh năm: 1996; trú: K N, thành phố Đà Nẵng). Ông C1 cho Bùi Đức C mượn sử dụng và không biết C thực hiện tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả cho ông C1.

* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Ngô H1; Bùi Đức C và Phạm Huy T3 theo Cáo trạng số 130/CT-VKS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng và đề nghị:

* Về hình phạt chính:

- Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngô H1 từ 09 (chín) năm tù đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Đức C từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Huy T3 07 (bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 1,940 gam mẫu ký hiệu Aa; 2,490 gam mẫu ký hiệu Ab; 1,717 gam mẫu ký hiệu Ala; 3,117 gam mẫu ký hiệu Alb còn lại sau giám định (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 27.6.2024); 1,12 gam mẫu ký hiệu Alc còn lại sau giám định (được niêm phong trong phong bì số 1834/KL-KTHS) và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả; 01 cân điện tử hình con chuột máy tính, màu đen, có dòng chữ Maese Scale, kích thước (10,5x6)cm; 01 bao nilông màu trắng, kích thước (18x12)cm, bên trong chứa 50 gói nilông màu trắng, kích thước (4x4)cm chưa qua sử dụng.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động màu trắng, có chữ S, imeil: 356452735920376, imei2: 356546965920376, gắn sim số 0377.410.715;

+ 01 điện thoại di động Iphone, màu xanh, số imei: 353236108719405, số imei 2: 353236107887203, gắn sim số: 0393.281.173;

+ 01 điện thoại di động Iphone 12, số imeil: 352281794654970, số imei2: 35228179465497, gắn sim số: 0366.456.705.

+ Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án đối với: 01 tờ giấy khổ A4, có ghi chữ và số bằng mực xanh có nội dung liên quan đến việc mua bán ma tuý; 03 đĩa chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh quá trình hỏi cung bị can H1, C, T3.

* Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, tuyên:

+ Buộc bị cáo Nguyễn Ngô H1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 7.000.000 đồng.

+ Buộc bị cáo Bùi Đức C phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.300.000 đồng.

* Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Bùi Đức C thống nhất về mặt tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và áp dụng đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Bùi Đức C dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

* Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Đức C, Nguyễn Ngô H1, Phạm Huy T3 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố là đúng người, đúng tội, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quy trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa người chứng kiến vắng mặt. Xét việc vắng mặt của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền chi tiêu và sinh hoạt cá nhân, Nguyễn Ngô H1 nảy sinh việc mua bán trái phép chất ma túy, H1 nói Bùi Đức C giao ma tuý cho H1 để được hưởng tiền công từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng và nhờ Phạm Huy T3 có người mua thì giới thiệu cho H1. Mặc dù, biết H1 mua bán trái phép chất ma tuý nhưng T3 vẫn cho H1 ở chung phòng và cất giấu ma tuý. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 6 đến ngày 25.6.2024, H1 đã nói C đi giao ma tuý cho H1 08 lần, H1 thu lợi 7.000.000 đồng, C thu lợi 3.300.000 đồng. T3 giới thiệu người mua cho H1 01 lần, cụ thể: Khoảng 20 giờ ngày 25.6.2024, người mua sử dụng số điện thoại 0562.103.xxx liên hệ T3 hỏi mua 07 viên ma túy thuốc lắc và một hộp 5 ma tuý ketamine với giá 8.500.000 đồng, T3 nhắn thông tin người mua cho H1, C. H1 nói C vào phòng ngủ tại nhà số D, H M, P. H, Q. L, TP . rồi giao cho người mua tại trước số nhà G X, phường H, TP .. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi C đang đi bán 3,162 gam ma tuý loại Methamphetamine và MDMA và 3,106 gam loại Ketamine cho H1 thì bị phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, thu giữ của Nguyễn Ngô H1 3,129884 gam ma tuý loại Methamphetamine và MDMA; 4,0071 gam ma tuý Ketamine và 0,01942 gam ma tuý Nimetazepam.

Trong vụ án này, bị cáo Bùi Đức C chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng chất ma túy thu giữ khi bắt quả tang là 3,162 gam ma tuý loại Methamphetamine và MDMA và 3,106 gam ma tuý Ketamine. Bị cáo Nguyễn Ngô H1 và Phạm Huy T3 cùng chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ khối lượng các chất ma túy đã thu giữ được trong vụ án là: 6,291884 gam ma tuý loại Methamphetamine và MDMA; 7,1131 gam ma tuý Ketamine và 0,01942 gam ma tuý Nimetazepam. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Ngô H1 đã cùng với bị cáo Bùi Đức C thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy 08 lần.

Do đó, hành vi của bị cáo Bùi Đức C phạm vào tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngô Huy P vào tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Phạm Huy T3 phạm vào tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 130/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Nguyễn Ngô H1 là người có vai trò tích cực nhất, bị cáo vừa thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần vừa phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ khối lượng các chất ma túy thu giữ được trong vụ án nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo C và bị cáo T3. Bị cáo Phạm Huy T3 không trực tiếp thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà là người đã cho H1 ở chung phòng và cất giấu ma tuý, giới thiệu người mua cho bị cáo H1 01 lần nên mức độ tham gia phạm tội của bị cáo T3 thấp hơn các bị cáo khác. Do đó, mức hình phạt của bị cáo T3 sẽ thấp hơn bị cáo H1 và bị cáo C.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Đức C và Phạm Huy T3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Ngô H1, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội từ 05 lần trở lên, lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Bùi Đức C đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm t khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận nên HĐXX sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Phạm Huy T3 có ông nội là người có công với cách mạng, bị địch bắt tù đày. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sẽ được HĐXX xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng đồng thời cũng để răn đe, phòng chống tội phạm nói chung.

[7] Xét lời bào chữa của luật sư tại phiên tòa, HĐXX thấy:

Đối với ý kiến của người bào chữa về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Bùi Đức C là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Đối với ý kiến của người bào chữa về việc đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Bùi Đức C dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, HĐXX xét thấy: Trong vụ án này, mặc dù bị cáo Bùi Đức C được HĐXX xem xét áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy 8 lần, hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, có vai trò đáng kể trong đồng phạm nên HĐXX nhận thấy không có cơ sở để áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của người bào chữa đã nêu tại phiên tòa.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc nhất định từ một đến năm năm, phạt quản chế, cấm cư trú từ một đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên xét thấy, các bị cáo là lao động phổ thông, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về biện pháp tư pháp: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngô H1 thừa nhận trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy đã thu lợi bất chính số tiền 7.000.000 đồng, bị cáo Bùi Đức C khai thu lợi bất chính số tiền 3.300.000 đồng. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính nêu trên để sung quỹ nhà nước.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:

+ Đối với Toàn bộ mẫu vật được hoàn lại theo “Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định” ngày 27.6.2024; mẫu vật hoàn trả được niêm phong trong phong bì số 1834/KL-KTHS là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và toàn bộ vỏ bao gói mẫu; 01 cân điện tử hình con chuột máy tính, màu đen, có dòng chữ Maese Scale, kích thước (10,5x6)cm; 01 bao nilông màu trắng, kích thước (18x12)cm, bên trong chứa 50 gói nilông màu trắng, kích thước (4x4)cm, chưa qua sử dụng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 03 điện thoại thu giữ của Bùi Đức C, Nguyễn Ngô H1, Phạm Huy T3 là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

+ Đối với xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS 43G1-549.75, số khung: RLHJAS934PY061296, số máy: JA70E-008G037 thuộc sở hữu của ông Bùi Đức C1 (sinh năm: 1996; trú: K N, thành phố Đà Nẵng). Ông C1 cho Bùi Đức C mượn sử dụng và không biết C thực hiện tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả cho ông C1 là có căn cứ.

+ Đối với 01 tờ giấy khổ A4, có ghi chữ và số bằng mực xanh có nội dung liên quan đến việc mua bán ma tuý; 03 đĩa chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh quá trình hỏi cung bị can H1, C, T3: Xét đây là tài liệu, chứng cứ có liên quan và chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo cần tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án.

[11] Ngoài ra, Nguyễn Ngô H1, Bùi Đức C, Phạm Huy T3 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

+ Đối tượng người bán, người mua ma tuý của Nguyễn Ngô H1, Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.

[12] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngô H1, bị cáo Bùi Đức C, bị cáo Phạm Huy T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngô H1 09 (chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26.6.2024.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Bùi Đức C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25.6.2024.

  3. Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Huy T3 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26.6.2024.

  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 1,940 gam mẫu ký hiệu Aa; 2,490 gam mẫu ký hiệu Ab; 1,717 gam mẫu ký hiệu Ala; 3,117 gam mẫu ký hiệu Alb còn lại sau giám định (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 27.6.2024); 1,12 gam mẫu ký hiệu Alc còn lại sau giám định (được niêm phong trong phong bì số 1834/KL-KTHS) và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả; 01 cân điện tử hình con chuột máy tính, màu đen, có dòng chữ Maese Scale, kích thước (10,5x6)cm; 01 bao nilông màu trắng, kích thước (18x12)cm, bên trong chứa 50 gói nilông màu trắng, kích thước (4x4)cm chưa qua sử dụng.
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
      • + 01 điện thoại di động màu trắng, có chữ S, imeil: 356452735920376, imei2: 356546965920376, gắn sim số 0377.410.715;
      • + 01 điện thoại di động Iphone, màu xanh, số imei: 353236108719405, số imei 2: 353236107887203, gắn sim số: 0393.281.173;
      • + 01 điện thoại di động Iphone 12, số imeil: 352281794654970, số imei2: 35228179465497, gắn sim số: 0366.456.705.
      • (Toàn bộ các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 10 năm 2024).
      • + Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án đối với: 01 tờ giấy khổ A4, có ghi chữ và số bằng mực xanh có nội dung liên quan đến việc mua bán ma tuý; 03 đĩa chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh quá trình hỏi cung bị can H1, C, T3.
  5. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự.
    • + Buộc bị cáo Nguyễn Ngô H1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 7.000.000 đồng.
    • + Buộc bị cáo Bùi Đức C phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.300.000 đồng.
  6. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Ngô H1, Bùi Đức C và Phạm Huy T3 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

  7. Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Các bị cáo;

- VKSND Q.Hải Châu;

- VKSND TP. Đà Nẵng;

- Công an Q. Hải Châu;

- Chi cục THA DS Q. Hải Châu;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Thanh Nga.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 176/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Ngô H, bị cáo Bùi Đức C, bị cáo Phạm Huy T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger