|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 176/2024/HS-ST Ngày: 26-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bá Ngọc và Ông Hoàng Luật.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Vũ L (tên gọi khác: B), sinh năm 1990 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1961; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày từ ngày 27/9/2024.
2/ Lê Minh Trí T1 (tên gọi khác: Tài R), sinh năm 1999 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Minh H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Tại Bản án số 120/2023/HS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022.
3/ Đinh Thành P, sinh năm 2001 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn N1, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 120/2023/HS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 27/9/2024.
4/ Lý Học K (tên gọi khác: L1), sinh năm 1992 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Sây M, sinh năm 1969 và bà Chềnh Ngọc K1, sinh năm 1979; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 422/2023/HS-PT ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023.
5/ Nguyễn Văn T2 (tên gọi khác: Thành Ba C), sinh năm 1986 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1950 và bà Trương Thị Mỹ L2, sinh năm 1955; Vợ:, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 15/2008/HS-ST ngày 23/01/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 14 năm tù về tội “Giết người”. Chấp hành xong ngày 31/8/2015.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 27/9/2024.
6/ Trương Minh T3, sinh năm 1995 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Không rõ tên cha; Mẹ: Trương Thị Kim L3, sinh năm 1975; Vợ: Nguyễn Thị Ánh N2, sinh năm 1994; Con: 02 người, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.
7/ Võ Thanh T4, sinh ngày 01/01/2005 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Không rõ tên cha; Mẹ: Võ Thị H2, sinh năm 1989; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.
8/ Nguyễn Tấn Hoàng A (tên gọi khác: Chí T5), sinh năm 2004 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn Đ (đã chết) và bà Lê Thị Ú, sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại.
9/ Nguyễn Chí H3, sinh năm 2002 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Minh H4, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Nguyễn Văn L4, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Duy T6, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ D, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
2/ Chề Hưng L5, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Minh Trí T1, Nguyễn Vũ L, Đinh Thành P cùng với nhóm đối tượng gồm: Nguyễn Văn T2, Lý Học K, Nguyễn Tấn Hoàng A, Trương Minh T3, Võ Thanh T4 và Nguyễn Chí H3 có mối quan hệ là bạn bè quen biết nhau.
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/7/2022, Lý Học K liên lạc với nhóm của Lê Minh Trí T1 nói là có Điểu Văn D1 (tên gọi khác là Bé H5) đánh bạn của K là anh Nguyễn Duy T6, tại quán K3 ở ấp H, xã T nên bị cáo K rủ nhóm của bị cáo T1 đi tìm anh D1 (bé H5) đánh trả thù. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của bị cáo T1 tập trung tại nhà của bị cáo Nguyễn Văn T2 ở ấp P, xã P, huyện Đ. Tại đây lúc này gồm có: các bị cáo T2, K, Nguyễn Vũ L, Lê Minh Trí T1, Nguyễn Tấn Hoàng A, Trương Minh T3, Võ Thanh T4 và Nguyễn Chí H3 và những đối tượng chưa xác định được nhân thân, lai lịch (bao gồm T7, T8 và một số người không rõ họ tên, là bạn của bị cáo Nguyễn Vũ L và Lý Học K).
Nhóm bạn của bị cáo Nguyễn Vũ L và Lý Học K mang đến 01 bao tải bên trong gồm có 06 con dao, 04 cây tầm vông và 02 cây tuýp sắt rồi tất cả mang bao tải hung khí trên cùng đi đến khu vực nghĩa địa T thuộc ấp T, xã P. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 24/7/2022 thì bị cáo T2 có điện thoại cho chủ quán karaoke Bom B1 là anh Chề Hưng L5, hỏi anh L5 là anh D1 (bé H5) còn ở quán hay không thì anh L5 nói với T2 là không có; đồng thời anh L5 nói T2 đừng đến quán nữa vì đã báo Công an xã và tắt máy. Lúc này, bị cáo K nói với mọi người là “nhịn hoài thì nó làm tới, không có nhịn nữa” và tất cả thống nhất cùng nhau đi lên quán K3 tìm đánh anh D1.
Lúc này, 01 người bạn của bị cáo L bỏ bao tải xuống đất để cả nhóm lấy hung khí, sau đó, bị cáo Hoàng A điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở các bị cáo H3 và T2 đi đầu (H3 cầm 01 cây tầm vông, T2 cầm 01 con dao rựa dài khoảng 60cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng sắt); Bị cáo T3 điều khiển xe mô tô biển số 60B7-306.27 chở các bị cáo K và T4 (K và T4 mỗi người cầm 01 con dao dài khoảng 1m, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng sắt); đối tượng tên T7 và nhóm bạn của T7 và T8 đi trên 03 xe mô tô (không rõ biển số); bị cáo T1 điều khiển xe mô tô biển số 60B4-932.19 chở các bị cáo L và P (L và P mỗi người cầm 01 con dao) đi sau cùng. Khi cả nhóm đi đến quán K3 thì thấy quán đóng cửa và không thấy anh D1 (bé H5) nên tất cả đi về lại khu vực nghĩa địa T.
Trên đường đi về, khi đi ngang qua khu vực Chợ C thuộc xã T thì nhóm của bị cáo T2 nhìn thấy nhóm người gồm: anh Nguyễn Văn L4, anh Lâm Bảo H6, anh Đào Anh K2 và anh Nguyễn Hoàng P1 đang ngồi chơi trước nhà anh K2 ở ấp Đ, xã T nên nhóm của T2 dừng xe lại. Sau khi nhìn thì thấy không có anh D1 (Bé H5) trong nhóm của anh L4 nên bị cáo T2 và nhóm bạn tiếp tục đi về khu vực nghĩa địa T9. Khoảng 05 phút sau, bị cáo T1 điều khiển xe mô tô chở các bị cáo L và P1 đi đến chổ nhóm anh L4 đang ngồi. Nghĩ là có anh D1 (bé H5) trong nhóm của anh L4 nên bị cáo T1 dừng xe lại. Khi nhìn thấy các bị cáo L và P1 cầm dao nên nhóm của anh L4 hoảng sợ và bỏ chạy. Anh P1 và anh K2 chạy vào nhà trốn, còn anh L4 và anh H6 chạy vào đường hẻm gần đó. Thấy nhóm anh L4 bỏ chạy nên bị cáo P1 xuống xe chạy bộ đuổi theo anh H6, còn bị cáo T1 điều khiển xe chở bị cáo L đuổi theo anh L4. Khi chạy được khoảng 15m thì anh L4 leo lên hàng rào lưới B40 nhưng bị bị cáo L ngồi phía sau xe cầm dao chém 01 nhát trúng vào đầu anh L4 làm anh L4 ngã xuống đường. Anh L4 đứng dậy chạy ngược ra lại đường chợ Chiều cũ vào hẻm đối diện thì bị cáo L xuống xe chạy bộ đuổi theo anh L4 và bị cáo T1 điều khiển xe chạy theo phía sau. Lúc này, nhóm của T1 phát hiện chém nhầm người nên dừng lại và cùng nhau đi về nghĩa địa T vứt bỏ hung khí rồi đi về nhà.
* Hậu quả:
1) Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1083/Tgt/2022 ngày 18/10/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ xác định thương tích của anh Nguyễn Văn L4 như sau:
- Tổn thương nứt sọ đỉnh phải kích thước 4,2cm; điện não đồ không có ổ tổn thương tương ứng. Tỷ lệ: 11%.
- Sẹo vùng trán đỉnh phải trong chân tóc kích thước 07x0,2cm. tỷ lệ: Tỷ lệ: 02%.
- Vết biến đổi sắc tố da gối trái. Tỷ lệ: 0,5%.
- Vết biến đổi sắc tố da gối phải. Tỷ lệ: 0,5%.
- Vết biến đổi sắc tố da cổ chân phải. Tỷ lệ: 0,5%.
- Không định tỷ lệ cho thương tích cổ chân trái hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.
Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn L4 là 14%.
Kết luận khác:
- Vật gây thương tích:
- Thương tích đầu: vật sắc.
- Thương tích chân hai bên: vật tày.
2) Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 1298/GĐHS/2022 ngày 14/12/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ xác định:
Vết thương để lại sẹo vùng trán đỉnh phải trong chân tóc kích thước 07x0,2cm, nứt sọ đỉnh phải kích thước 4,2cm. Tổn thương này do vật sắc tác động vào vùng trán đỉnh phải với lực mạnh theo hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào trong và chếch từ sau ra trước gây nên.
Vết trầy gối trái để lại biến đổi sắc tố da kích thước 04x01cm. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng gối trái với lực nhẹ theo hướng từ trước ra sau hoặc gần song song bề mặt da gây nên.
Vết trầy gối phải để lại biến đổi sắc tố da kích thước 02x01cm. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng gối phải với lực nhẹ theo hướng từ trước ra sau hoặc gần song song bề mặt da gây nên.
Vết trầy xước da cổ chân phải để lại vết biến đổi sắc tố da kích thước 1,5x01cm. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng cổ chân phải với lực nhẹ theo hướng từ trước ra sau hoặc gần song song bề mặt da gây nên.
Vết trầy xước da cổ chân trái đã khỏi không để lại dấu vết. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng cổ chân trái với lực nhẹ theo hướng từ trước ra sau hoặc gần song song bề mặt da gây nên.
* Vật chứng vụ án:
- 06 con dao, 04 cây tầm vông, 02 cây tuýp sắt.
- 01 xe mô tô biển số 60B4-932.19 và 01 xe mô tô biển số 60B7-306.27.
Tại cáo trạng số 251/CT-VKS ngày 19 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ L, Lê Minh Trí T1 và Đinh Thành P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i, khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lý Học K, Nguyễn Văn T2, Trương Minh T3, Võ Thanh T4, Nguyễn Tấn Hoàng A và Nguyễn Chí H3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Vũ L: Từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù;
Bị cáo Lê Minh Trí T1: Từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
Bị cáo Đinh Thành P: Từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
Bị cáo Lý Học K: Từ 08 tháng đến 10 tháng tù;
Bị cáo Nguyễn Văn T2: Từ 06 tháng đến 08 tháng tù;
Bị cáo Trương Minh T3: Từ 05 tháng đến 06 tháng tù;
Bị cáo Võ Thanh T4: Từ 03 tháng đến 04 tháng tù;
Bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng A: Từ 05 tháng đến 06 tháng tù;
Bị cáo Nguyễn Chí H3: Từ 05 tháng đến 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 24/7/2022, tại nhà của Nguyễn Văn T2 ở ấp P, xã P, huyện Đ, các bị cáo Lê Minh Trí T1, Nguyễn Vũ L, Đinh Thành P, Nguyễn Văn T2, Lý Học K, Nguyễn Tấn Hoàng A, Trương Minh T3, Võ Thanh T4 và Nguyễn Chí H3 đã tụ tập, chuẩn bị những hung khí nguy hiểm gồm: 06 con dao, 04 cây tầm vông, 02 cây tuýp sắt rồi mang theo những hung khí này cùng nhau đi tìm anh Điểu Văn D1 với mục đích là gây thương tích cho anh D1. Do không tìm thấy anh D1 nên cả nhóm quay về; trên đường về đến khu vực ấp H, xã T, huyện Đ thì các bị cáo Lê Minh Trí T1, Nguyễn Vũ L và Đinh Thành P đã dùng 01 con dao dài khoảng 80cm cán bằng tre, lưỡi dao bằng sắt (là hung khí nguy hiểm) chém vào vùng đầu của anh Nguyễn Văn L4 làm anh L4 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận cáo trạng số 251/CT-VKS ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ L, Lê Minh Trí T1 và Đinh Thành P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i, khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lý Học K, Nguyễn Văn T2, Trương Minh T3, Võ Thanh T4, Nguyễn Tấn Hoàng A và Nguyễn Chí H3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Đây là vụ án có nhiều bị cáo thực hiện những hành vi phạm tội khác nhau nhưng cùng bị truy tố về một tội danh nên Hội đồng xét xử cần phân hóa vai trò của các bị cáo trong vụ án như sau:
Mặc dù không có mâu thuẫn với bị hại nhưng bị cáo Nguyễn Vũ L là người trực tiếp cầm dao để chém bị hại, thực hiện hành vi một cách tích cực thể hiện ở việc bị hại đã bỏ chạy khi thấy bị cáo cầm dao nhưng bị cáo vẫn đuổi theo bị hại, mong muốn thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại tới cùng, thể hiện tính chất côn đồ, xem thường pháp luật nên mức hình phạt dành cho bị cáo L là cao nhất trong vụ án.
Bị cáo Lê Minh Trí T1 và bị cáo Đinh Thành P mặc dù không có mâu thuẫn với bị hại nhưng các bị cáo T1 và P đã giúp sức tích cực cho bị cáo L bằng cách điều khiển xe mô tô đuổi theo bị hại đến cùng để bị cáo L gây thương tích cho bị hại, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Bị cáo T1 là người có nhân thân xấu khi bị Tòa án xử phạt về tội “Gây rối trật tự công cộng” nên hình phạt dành cho bị cáo T1 thấp hơn bị cáo L, nhưng cao hơn bị cáo P.
Bị cáo Nguyễn Văn T2 người tích cực, kêu gọi địa điểm tập trung tại nhà trọ của bị cáo T2, và cung cấp nhiều hung khí cho đồng bọn đi tìm anh D1 để gây thương tích; đồng thời là người có vai trò dẫn đầu các xe máy đi đến quán K3 để tìm D1; khi không tìm được D1 ở quán karaoke thì bị cáo T2 chỉ đạo cả nhóm đi hướng khu vực Chợ C để tìm D1. Bị cáo Lý Học K là đối tượng khởi xướng, rủ rê đồng bọn chuẩn bị hung khí, kêu gọi đồng bọn truy tìm đến để nhằm mục đích gây thương tích cho anh Điểu Văn D1. Hành vi của bị cáo T2 và bị cáo K là tiền đề dẫn đến việc bị cáo L chém nhầm anh L4; thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Cả hai bị cáo T2 và K là người có nhân thân xấu, nên cần áp dụng mức hình phạt cho bị cáo T2 và bị cáo K là ngang nhau, thấp hơn các bị cáo nêu trên.
Mặc dù không trực tiếp gây thương tích cho bị hại, nhưng việc tụ tập, chuẩn bị, sử dụng phương tiện, hung khí, giúp sức tích cực trong việc truy tìm anh D1 của các bị cáo Trương Minh T3, Võ Thanh T4, Nguyễn Tấn Hoàng A và Nguyễn Chí H3 thể hiện thái độ xem thường pháp luật, là tiền đề dẫn đến việc bị cáo L chém nhầm anh L4 nên cần áp dụng mức hình phạt tương ứng với từng bị cáo.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần đưa ra xét xử các bị cáo và có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung là cần thiết.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; Các bị cáo bị cáo Nguyễn Vũ L, Lê Minh Trí T1 và Đinh Thành P đã bồi thường thiệt hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Các bị cáo Trương Minh T3, Võ Thanh T4, Nguyễn Tấn Hoàng A và Nguyễn Chí H3 “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Bị cáo Nguyễn Vũ L và bị cáo Đinh Thành P phạm tội lần đầu; bị cáo Võ Thanh T4 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi; bị cáo Trương Minh T3 là lao động chính trong gia đình, đang phải nuôi con còn nhỏ; các bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về vật chứng vụ án:
- 06 con dao, 04 cây tầm vông, 02 cây tuýp sắt là các hung khí mà các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội; hiện nay không thu giữ được nên Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm vật chứng, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.
- 01 xe mô tô biển số 60B4-932.19 thuộc sở hữu của Lê Minh Trí T1. Sau khi gây thương tích cho anh Nguyễn Văn L4, T1 đã bán xe mô tô trên cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không xem xét.
- 01 xe mô tô biển số 60B7-306.27 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Duy P2. Quá trình điều tra xác định ông P2 có cho T3 mượn xe mô tô biển số 60B7-306.27 nhưng không biết việc T3 sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Nguyễn Vũ L đã cùng Lê Minh Trí T1 và Đinh Thành P tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn L4 số tiền là 50.000.000 đồng. Anh L4 đã nhận đủ số tiền trên và đã làm đơn bãi nại cho các bị cáo nên không xem xét.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên T7 và 04 người bạn của T7, đối tượng tên T8 và 02 người bạn của T8, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.
[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Vũ L, Lê Minh Trí T1, Đinh Thành P, Lý Học K, Nguyễn Văn T2, Trương Minh T3, Võ Thanh T4, Nguyễn Tấn Hoàng A và Nguyễn Chí H3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1.1. Áp dụng điểm a, i, khoản 1 và điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L: 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2024.
Xử phạt bị cáo Đinh Thành P: 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2024
1.2. Áp dụng điểm a, i, khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Minh Trí T1: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 120/2023/HS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 (hai) bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 24/7/2021 đến ngày 25/7/2021.
1.3. Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý Học K: 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” tại Bản án số 422/2023/HS-PT ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 (hai) bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
1.4. Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2: 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2024.
1.5. Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Minh T3: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào cơ sở giam giữ để thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng A: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào cơ sở giam giữ để thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H3: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào cơ sở giam giữ để thi hành án.
1.5. Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điều 91, 98 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Thanh T4: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào cơ sở giam giữ để thi hành án.
2. Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra lệnh bắt tạm giam các bị cáo Trương Minh T3, Võ Thanh T4, Nguyễn Tấn Hoàng A và Nguyễn Chí H3 tại phiên tòa để đảm bảo thi hành án, mặc dù bản án bị kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi-nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thanh Thái |
Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích (intentionally inflicting injury)
- Số bản án: 176/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Intentionally inflicting injury)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vũ L
