|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 176/2024/HS-ST Ngày: 18-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Bá Quyền, nghề nghiệp: Hưu trí
- Ông Hà Văn Tôn, nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đào Việt Yên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 165/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Triệu Chiều D (tên gọi khác: không có), sinh ngày 17 tháng 9 năm 1997 tại Bắc Kạn; nơi thường trú: thôn R, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Chiều T và bà Lý Thị T1; có vợ là Hoàng Thị A và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án: 01, tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 10/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Triệu Chiều D 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2023 nên chưa được xóa án tích); tiền sự: không có; nhân thân: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 235/2019/QĐ-TA ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, buộc Triệu Chiều D cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng (chấp hành xong ngày 26/8/2020).
Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 28/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Triệu Chiều D: Bà Nguyễn Thị D1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T3, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Bị hại: Anh Lương Tài T2, sinh năm 2008; địa chỉ: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của anh Lương Tài T2: Bà Lương Thị V, sinh năm 1986; địa chỉ: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lương Thị V, sinh năm 1986; địa chỉ: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Bà Đồng Thị H, sinh năm 1983; tổ dân phố Q, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/8/2024, Triệu Chiều D đi từ phòng trọ số C tầng C nhà T thuộc tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên do Dũng đang thuê trọ xuống nhà để xe thuộc tầng 1 nhà trọ Huyền V1 để trộm cắp xe mô tô. Tại đây, D quan sát thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu cam đen, không gắn biển số của anh Lương Tài T2 đang dựng tại nhà để xe không có ai trông coi, D liền sử dụng 01 chiếc tua vít lấy được ở trong khu vực nhà để xe và dùng chiếc tua vít chọc vào ổ khóa điện xe mô tô để mở khóa nhưng không mở được, D tiếp tục giật dây điện gắn với ổ khóa điện của xe mô tô nối lại với nhau. Sau đó, D đẩy xe ra cổng nhà trọ và khởi động xe rồi điều khiển đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến địa phận tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P thì bánh xe mô tô hết hơi nên D đã gửi lại tại quán sửa xe của anh Nguyễn Văn C và hẹn anh C chiều cùng ngày sẽ đến lấy lại, rồi D đi chơi game tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, anh Lương Tài T2 phát hiện xe mô tô bị mất trộm nên đã trình báo vụ việc đến Công an phường Đ, thành phố P đề nghị giải quyết. Ngày 22 và 23/8/2024, anh Lương Tài T2 và bà Lương Thị V (là mẹ đẻ của anh T2) đã giao nộp cho Công an phường Đ 01 USB có chứa đoạn video ghi lại hình ảnh D thực hiện hành vi trộm cắp và 01 biển số: 20G1 - 448.37 của chiếc xe mô tô. Công an phường Đ đã triệu tập Triệu Chiều D đến làm việc, tại đây D đã khai nhận hành vi trộm cắp của mình và giao nộp chiếc tua vít dùng để mở ổ khóa chiếc xe mô tô của anh T2. Anh Nguyễn Văn C sau khi biết chiếc xe mô tô mà D gửi là tài sản có liên quan đến vụ việc trộm cắp nên đã giao nộp cho Công an phường Đ để giải quyết. Công an phường Đ đã lập biên bản tạm giữ đồ vật, tài sản trên và chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 25/8/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ của Triệu Chiều D: 01 chiếc quần bò dài màu xám có gắn nhãn mác HAND CRAFTED DENIM; 01 chiếc áo phông màu đen nhãn hiệu YODY, phần cổ áo và ống áo có kẻ màu trắng và 01 đôi dép nhựa màu đen, phần quai dép có kẻ màu trắng mà D đã sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Tại Bản kết luận định giá số 92/KLĐG ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu cam đen, mosố máy: JA39E0534787, Số khung:RLHJA3904HY559649, xe đã qua sử dụng, hiện trạng còn nguyên vẹn và sử dụng bình thường có giá trị là 9.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Triệu Chiều D đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai nhận của D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong sơ vụ án. Vật chứng của vụ án:
- - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu cam đen, được đăng ký biển số 20G1- 448.37, tình trạng đã qua sử dụng và 01 chiếc biển số 20G1- 448.37, tình trạng đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra trả lại cho bà Lương Thị V quản lý, sử dụng.
- - 01 chiếc USB nhãn hiệu ADATA C008/16GB, màu trắng xanh; 01 chiếc tua vít có lưỡi bằng kim loại; 01 chiếc quần bò dài màu xám có gắn nhãn mác HAND CRAFTED DENIM; 01 chiếc áo phông màu đen nhãn hiệu YODY, phần cổ áo và ống áo có kẻ màu trắng và 01 đôi dép nhựa màu đen, phần quai dép có kẻ màu trắng được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 175/CT-VKSPY ngày 31/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Triệu Chiều D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Chiều D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Triệu Chiều D từ 15 - 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại và người đại diện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét.
Về vật chứng: chuyển lưu hồ sơ vụ án 01 (một) chiếc USB nhãn hiệu ADATA C008/16GB, màu trắng xanh, tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong vào phong bì giấy ký hiệu A1 có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc tua vít có lưỡi bằng kim loại dài 13,6 cm, thân lưỡi tua vít có gắn nhựa màu đen, lưỡi tua vít có hai đầu gồm đầu có 4 cạnh và đầu có 2 cạnh; chuôi tua vít làm bằng nhựa màu vàng dài 8 cm, phần giữa chuôi tua vít rỗng ở giữa để gắn với lưỡi tua vít, tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu C1 bằng giấy có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố P; 01 (một) chiếc quần bò dài màu xám có gắn nhãn mác HAND CRAFTED DENIM; 01 (một) chiếc áo phông màu đen nhãn hiệu YODY, phần cổ áo và ống áo có kẻ màu trắng và 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, phần quai dép có kẻ màu trắng, tình trạng các đồ vật đã qua sử dụng cùng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu QA bằng giấy trắng có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: nhất trí với tội danh, điều luật, án phí, trách nhiệm dân sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, mặt khác bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bản thân gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Triệu Chiều D đều thừa nhận, khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/8/2024, tại tầng 1 nhà để xe của nhà trọ Huyền V1 thuộc tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, T D đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn cam đen, đăng ký biển số 20G1-448.37 của anh Lương Tài T2 có giá trị là 9.000.000 đồng thì bị phát hiện xử lý.
Lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo Triệu Chiều D đã xâm phạm đến quyền tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 9.000.000 đồng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật như sau:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Bản cáo trạng số 175/CT-VKSPY ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 01 nhân thân về việc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và được bị hại và người đại diện xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 10/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Triệu Chiều D 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2023, tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, mới chấp hành án trở về hòa nhập cộng đồng nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng hình nghiêm khắc là hình phạt tù, buộc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa tại phiên tòa là phù hợp nên có căn cứ được chấp nhận.
[5] Về vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu cam đen, được đăng ký biển số 20G1- 448.37 và 01 chiếc biển số 20G1- 448.37 được Cơ quan điều tra trả lại cho bà Lương Thị V quản lý, sử dụng là phù hợp.
- - Đối với 01 chiếc USB nhãn hiệu ADATA C008/16GB, màu trắng xanh. Đây là vật chứng có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cần được chuyển từ kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên đến Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên để lưu trong hồ sơ vụ án theo quy định;
- - Đối với 01 chiếc tua vít có lưỡi bằng kim loại; 01 chiếc quần bò dài màu xám có gắn nhãn mác HAND CRAFTED DENIM; 01 chiếc áo phông màu đen nhãn hiệu YODY, phần cổ áo và ống áo có kẻ màu trắng và 01 đôi dép nhựa màu đen, phần quai dép có kẻ màu trắng. Xét thấy, đây là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, có gia đình thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Trong vụ án, anh Nguyễn Văn C là người được bị cáo Triệu Chiều D gửi chiếc xe mô tô do D trộm cắp của anh Lương Tài T2. Tuy nhiên, anh C không biết chiếc xe mô tô mà D gửi là tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi của anh C không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh C là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt Triệu Chiều D 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Chuyển 01 (một) chiếc USB nhãn hiệu ADATA C008/16GB, màu trắng xanh, tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong vào phong bì giấy ký hiệu A1 có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P từ kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên đến Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên để lưu giữ trong hồ sơ vụ án;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc tua vít có lưỡi bằng kim loại dài 13,6 cm, thân lưỡi tua vít có gắn nhựa màu đen, lưỡi tua vít có hai đầu gồm đầu có 4 cạnh và đầu có 2 cạnh; chuôi tua vít làm bằng nhựa màu vàng dài 8 cm, phần giữa chuôi tua vít rỗng ở giữa để gắn với lưỡi tua vít, tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu C1 bằng giấy có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P; 01 (một) chiếc quần bò dài màu xám có gắn nhãn mác HAND CRAFTED DENIM; 01 (một) chiếc áo phông màu đen nhãn hiệu YODY, phần cổ áo và ống áo có kẻ màu trắng và 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, phần quai dép có kẻ màu trắng, tình trạng các đồ vật đã qua sử dụng cùng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu QA bằng giấy trắng có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07 tháng 11 năm 2024 giữa Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Chiều D.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |
Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 176/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Chiều D phạm tội Trộm cắp tài sản
