Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 176/2024/HS-ST

Ngày: 13/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nông Thị Duyên

2. Bà Vũ Kim Hoa

Thư ký phiên tòa: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Thế Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 163/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Hoàng Trung N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/10/1995 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT: Xóm T, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12 phổ thông; Con ông: Hoàng Văn H (đã chết); Con bà: Hoàng Thị T (đã chết); A, chị, em ruột: Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ, con: không có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/8/2024 Hoàng Trung N đi bộ tại khu vực quảng trường tượng đài B (vườn hoa trung tâm) thuộc phường H, thành phố C thì gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 40 tuổi có biểu hiện giống người sử dụng ma túy nên Hoàng Trung N lại gần hỏi mua 400.000 đồng ma túy và được người này bán cho 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu vàng. Hoàng Trung N cất gói ma túy vừa mua được vào trong túi quần phía sau bên phải rồi đi tìm chỗ sử dụng. Khoảng 16h00 bị cáo đi bộ đến khu vực bờ sông dưới cầu treo thuộc tổ A, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng chuẩn bị sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác cơ quan công an phường N kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tang vật thu giữ là: 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (bị cáo khai nhận là Heroine) được thu giữ trong túi quần đằng sau bên phải chiếc quần bị cáo đang mặc và 01 điện thoại di động cảm ứng màu trắng bạc mặt sau có chữ Iphone

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng tang vật xác định được khối lượng chất bột màu trắng là: 0,13g (Không phẩy mười ba gam). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trưng cầu giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 1230 ngày 21/8/2024 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 494/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của phòng K công an tỉnh C kết luận: "Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H)".

Số ma túy bị phát hiện thu giữ của Hoàng Trung N, bị cáo khai nhận mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Hành vi của bị cáo đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản Cáo trạng số: 170/CT-VKSTP ngày 23/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Trung N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ và nội dung bản kết luận giám định số: 494/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh C. Bị cáo khai nhận do bản thân sử dụng ma túy nên ngày 20/8/2024 bị cáo đã tìm mua ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân ngoài ra bị cáo không có mục đích nào khác. Tại phiên tòa bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Hoàng Trung N đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Hoàng Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghi xử phạt bị cáo Hoàng Trung N từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "SỐ 494/KL-KTHS. Hoàn mẫu vụ Hoàng Trung N có hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 20/8/2024" Mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng K, Công an tỉnh C.

Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại cảm ứng màu trắng bạc, mặt sau có chữ Iphone thu giữ của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về tội danh:

    Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Trung N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

    Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định được: Hồi 15 giờ 40 phút ngày 20/08/2024 tại khu vực tổ A, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác Công an phường N, thành phố C đã phát hiện và bắt quả tang Hoàng Trung N đang có hành vi tàng trữ trái phép 0.13g (Không phẩy mười ba gam) chất ma túy (Heroine) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  3. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

    Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án tiền sự nhưng bị cáo nghiện ma túy do vậy được coi là có nhân thân xấu.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo hành về vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

  4. Về hình phạt chính: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Hoàng Trung N từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy (heroine), không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo tàng trữ ma túy với khối lượng ít, phạm tội lần đầu do vậy áp dụng hình phạt với mức khởi điểm theo đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với hành vi của bị cáo.

  5. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản tiết kiệm nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  6. Về xử lý vật chứng:

    Đối với vật chứng là ma túy đã thu giữ của bị cáo xét thấy nhà nước cấm mua bán, tàng trữ do vậy cần phải tịch thu tiêu hủy.

    Đối với chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo xét thấy chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc hằng ngày, không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội do vậy cần hoàn trả lại cho bị cáo.

  7. Về các vấn đề khác:

    Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Hoàng Trung N khai được mua với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ, khi mua không có ai biết và chứng kiến do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh mở rộng vụ án.

  8. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Trung N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trung N 12 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 20/8/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "SỐ 494/KL-KTHS. H1 lại mẫu sau giám định vụ Hoàng Trung N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 20/8/2024" Mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C (Kèm theo kết luận giám định số 494/KL-KTHS, ngày 27/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh C).

    • - Hoàn trả lại cho bị cáo Hoàng Trung N 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng màu trắng bạc mặt sau có chữ Iphone, số IMEL: 352039066748882, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

    Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 18 ngày 29/10/2024.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  5. Xử buộc bị cáo Hoàng Trung N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  7. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lý Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 176/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger