|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 176/2024/HS-ST Ngày: 07/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thuận
Bà Nguyễn Thị Thu Ba
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dũng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2024/TLST - HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐXXST – HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Chí T, Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Bé
Sinh ngày 29 tháng 9 năm 1990, tại: Kiên Giang.
Nơi ĐKTT và chỗ ở: Ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12.
Cha: Lê Hoàng E, sinh năm 1975.
Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1974.
Vợ: Tô Ngọc Hồng N, sinh năm 1989 (Đã ly hôn).
Con: 01 người, sinh năm 2012
Anh, em ruột: Có 03 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2024.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, Lê Chí T đang nhổ nấm tràm tại ấp C, xã C, thành phố P thì có 01 người thanh niên có zalo tên “Sửa xe” (không rõ nhân thân) hỏi mua ma túy đá để sử dụng, T liền điện thoại cho 01 người thanh niên có zalo tên “Đức gòm” (không rõ nhân thân) hỏi có ma túy bán không, người thanh niên có zalo tên “Đức gòm” nói có và báo giá là 1.300.000 đồng, T báo lại cho người thanh niên có zalo tên “Sửa xe” biết, “Sửa xe” đồng ý. Sau đó “Đức gòm” kêu T đem bịch ma túy đi bán cho “Sửa xe” xong sẽ cho 100.000 đồng, T đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày T điều khiển xe mô tô biển số 68P1-732.84 đem 01 bịch ma túy đến trước cửa nhà nghỉ L tại đường H, thuộc khu phố E, phường D, thành phố P để bán ma túy cho “Sửa xe” thì bị lực lượng Công an thành phố P kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của T đang mặc có 01 bịch ma túy được đựng bên trong 01 bịch nylon màu trắng nên Công an thành phố P biên bản quả tang và tạm giữ cùng tang vật. Ngày 04/7/2024, Lê Chí T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- - 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước khoảng 1,7cm x 3,7cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong;
- - 01 điện thoại di động hiệu LG màu đen, số IMEI 1:352578110432390, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh, đã qua sử dụng.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave Alpha, màu xanh, biển số 68P1-732.84, đã qua sử dụng. Đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Ngọc D.
* Tại Kết luận giám định số 644/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K kết luận:
- Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,9699 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số: 161/CT-VKSPQ ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Lê Chí T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Chí T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Chí T mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- - Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 0,9239 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ 687/2024.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu LG màu đen, số IMEI 1:352578110432390, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh, đã qua sử dụng.
Đối với 01 người thanh niên có tên zalo tên “Đức gòm” chưa rõ nhân thân đưa ma túy cho T đem đi bán và 01 người thanh niên có zalo tên “Sửa xe” có hành vi mua trái phép chất ma túy, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đang điều tra làm rõ, khi nào bắt được sẽ xét xử sau.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với kết luận giám định và bản cáo trạng của Viện kiểm sát, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai nhận tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, đã có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 26/6/2024, Lê Chí T trên đường đi bán ma túy cho 01 người thanh niên có zalo tên “Sửa xe” (không rõ nhân thân), khi T đến trước cửa nhà nghỉ L tại đường H, thuộc khu phố E, phường D, thành phố P thì bị Công an thành phố P kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ 0,9699 gam ma túy loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ). T khai số ma túy đem bán cho người thanh niên có zalo tên “Sửa xe” là do người thanh niên có zalo tên “Đức gòm” (không rõ nhân thân) đưa ma túy cho T đem bán với giá 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng).
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Lê Chí T phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thế nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đó là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Cần tuyên tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 0,9239 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ 687/2024.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu LG màu đen, số IMEI 1:352578110432390, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh, đã qua sử dụng.
[6]. Đối với 01 người thanh niên có tên zalo tên “Đức gòm” chưa rõ nhân thân đưa ma túy cho T đem đi bán và 01 người thanh niên có tên zalo tên “Sửa xe” có hành vi mua trái phép chất ma túy, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đang điều tra làm rõ, khi nào bắt được sẽ xét xử sau.
[7]. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Trách nhiệm hình sự:
- - Tuyên bố: Lê Chí T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Lê Chí T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/06/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,9239 gam dựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ 687/2024.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu LG màu đen, số IMEI 1:352578110432390, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh, đã qua sử dụng.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng số 155/QĐ-VKSPQ-HS ngày 30/9/2024 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2024)
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Nhung |
Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 176/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Chí T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
