Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 176/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31 - 10 - 2024

V/v: tranh chấp yêu cầu chia tài sản sau ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Dũng
  2. Ông Nguyễn Thành Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên toà: Ông Bùi Đức Mậu- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2022 về: “tranh chấp yêu cầu chia tài sản sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị L, sinh năm 1976; địa chỉ: ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Đỗ Trí S, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Phạm Thị P, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
    • - Ông Đỗ Trọng T, địa chỉ: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Dương Thị L trình bày: Bà và ông Đỗ Trí S chung sống với nhau từ năm 1995, có đăng ký kết hôn nhưng đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 17/2018/QĐST-HNGĐ ngày 21/02/2018 của TAND huyện Hòn Đất. Trong quyết định thuận tình ly hôn, ông bà chỉ yêu cầu giải quyết vấn đề hôn nhân và nuôi con, về tài sản chung ông, bà tự thỏa thuận cho ông S quản lý, sử dụng để nuôi con, sau này con lớn sẽ giao lại cho con. Tuy nhiên sau khi ly hôn, ông S có vợ mới, không giao lại tài sản chung cho các con nên bà làm đơn yêu cầu chia tài sản chung của ông, bà tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân gồm:

  • - Tài sản 1: Quyền sử dụng (QSD) đất diện tích 8.631m2 (gồm có 300m2 đất thổ cư và 8000m2 đất sản xuất nông nghiệp), thuộc các thửa số 7, 7a, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Nguồn gốc diện tích đất này do bà trực tiếp mua lại của ông Đỗ Trọng T trong thời kỳ hôn nhân (giấy tay viết tay lập ngày 02/4/2006), nhưng ông T chưa làm thủ tục sang tên cho vợ chồng bà. Thửa 7 và 7a đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận QSD đất số AB 477905 ngày 01/4/2005 đứng tên ông Đỗ Trọng T, riêng thửa số 198 diện tích 2.300m2, loại đất CTL mặc dù nằm trong diện tích được cấp giấy nêu trên nhưng ông T đã chuyển nhượng cho người khác (không biết ai) trước khi chuyển nhượng 02 thửa 7 và 7a cho bà và ông S. Khi chuyển nhượng phần đất được cấp giấy thì ông T bán luôn cho bà và ông S cả phần đất nằm đối diện, bên kia lộ đan, cặp kênh M, trên đất có sẵn căn nhà cấp 4 đã cũ (căn nhà A), sau khi mua bà và ông S cất thêm căn nhà nhỏ hơn nằm cặp bên (căn nhà A2). Năm 2021, ông T đã làm thủ tục sang tên QSD đất cho ông S mà bà không biết. Bà L yêu cầu được sử dụng, quản lý toàn bộ tài sản này.
  • - Tài sản 2: QSD đất sản xuất nông nghiệp diện tích 12.284m2, thuộc thửa số 222, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, do ông Đỗ Trí S đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất. Nguồn gốc diện tích đất này là do cha mẹ chồng bà cho bà và ông S trong thời kỳ hôn nhân. Ông, bà đã từng dùng tài sản này để thế chấp vay tiền tại Ngân hàng N (A) chi nhánh huyện H. Bà đồng ý giao cho ông S sử dụng, quản lý toàn bộ tài sản này.
  • - Về số tiền bà và ông S cho bà Phạm Thị P vay: Bà và ông S vay tiền tại A chi nhánh huyện H để cho bà P vay lại, tại đơn khởi kiện bà yêu cầu bà P trả số tiền gốc còn lại 146.000.000 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng, tuy nhiên nay bà được biết bà P đã trả toàn bộ tiền gốc và lãi cho Ngân hàng, Ngân hàng đã trả giấy tờ QSD đất cho ông S nên bà xin rút yêu cầu đối với bà P và không yêu cầu đưa A tham gia tố tụng trong vụ án.

Ngoài ra, bà thống nhất sử dụng kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án và kết quả định giá tài sản của Công ty TNHH T2 làm cơ sở giải quyết vụ án.

Bị đơn ông Đỗ Trí S trình bày: Ông và bà Dương Thị L đã được Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất công nhận thuận tình ly hôn. Trong quyết định, ông, bà không yêu cầu giải quyết về tài sản chung mà tự thỏa thuận với nhau. Về tài sản chung như sau:

  • - Tài sản 1: Khoảng cuối năm 2021, ông Đỗ Trọng T đã sang tên cho ông theo Giấy chứng nhận QSD đất số AB 477905 do UBND huyện H cấp ngày 01/4/2005 đứng tên ông Đỗ Trọng T, đánh biến động sang tên chuyển nhượng cho ông Đỗ Trí S ngày 16/11/2021. Tài sản này khi ly hôn ông và bà L đã thống nhất giao cho ông quản lý, sử dụng để nuôi các con, nên ông yêu cầu công nhận tài sản này cho ông, không đồng ý chia tài sản này và không đồng ý giao cho bà L.
  • - Tài sản 2: Về diện tích, vị trí thửa đất như bà L trình bày. Đây là tài sản cha mẹ ruột cho riêng ông vào năm 2007, là tài sản riêng của ông, không phải tài sản chung của vợ chồng nên ông không đồng ý chia.
  • - Tài sản 3: QSD đất sản xuất nông nghiệp diện tích khoảng 7.000m2, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, do bà Dương Thị L đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất. Trước đây, khi cho bà P vay tiền, ông và bà L cùng thống nhất thế chấp Tài sản 2, Tài sản 3 và một QSD đất khác đứng tên bà Vũ Thị B (mẹ ruột của bà L) cho A chi nhánh H để vay số tiền 250.000.000 đồng, số tiền này ông và bà L cho bà P vay lại, bà P có trách nhiệm trả gốc và lãi Ngân hàng thay cho ông, bà. Tuy nhiên, khi còn lại tiền gốc 146.000.000 đồng thì bà P không có khả năng trả nữa nên ông phải vay mượn người khác để trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi khoảng 176.000.000 đồng và Ngân hàng trả lại 02 sổ đất đứng tên ông và bà L, sổ đứng tên bà L ông đã đưa cho bà L, còn sổ đứng tên ông ông giữ.
  • - Ngoài số tiền ông trả thay cho bà P 176.000.000 đồng, ông và bà L còn cho bà P vay số tiền 400.000.000 đồng. Khi ly hôn, ông thống nhất để bà L đòi bà P số tiền này và ông có đưa thêm cho bà L tiền mặt là 100.000.000 đồng, tổng cộng ông đã giao cho bà L 500.000.000 đồng, việc giao tiền và thỏa thuận trên chỉ nói bằng lời, không làm giấy tờ biên nhận thỏa thuận gì.

Do đó, nếu bà L không thống nhất theo như nội dung tự thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn, ông yêu cầu gom toàn bộ tài sản chung của ông, bà để chia gồm: Tài sản 1, Tài sản 3 và tổng số tiền 676.000.000 đồng (gồm: 100.000.000 đồng ông đưa cho bà L, 400.000.000 đồng cho bà P vay và 176.000.000 đồng ông S trả tiền thay bà P tại Ngân hàng). Tuy nhiên, đối với yêu cầu chia tài sản chung nêu trên ông sẽ yêu cầu khởi kiện trong vụ kiện riêng, không yêu cầu phản tố trong vụ kiện này. Riêng Tài sản 2 là tài sản riêng của ông, được cha mẹ tặng cho riêng, ông không đồng ý chia.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị P trình bày: Bà có vay tiền của bà L và ông S, trong đó có khoản tiền bà nhờ vay tại A chi nhánh huyện H, nhưng bà đã trả toàn bộ tiền gốc và lãi cho A là 176.000.000 đồng và trả sổ đất cho ông S. Ngoài ra, ông S cho rằng bà còn vay ông S, bà L số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), bà L không khởi kiện bà trong vụ kiện này và ông S không có đơn phản tố nên bà không có yêu cầu gì trong vụ kiện này.

Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án thể hiện tại Tờ trích đo địa chính số TĐ 16-2023 ngày 17/3/2023 thì tài sản 1 gồm 02 thửa: Thửa 1 (hình 1-2-3-4) diện tích 456,1m2 nằm trong Phạm vi BVCT thủy lợi và Hành lang ATGT đường bộ, nằm cặp kênh M, trên đất có căn nhà A1 diện tích 50,3m2 (ngang 4,3m, dài 11,7m) và căn nhà A2 diện tích 43,2m2 (ngang 5m, dài 8,65m); Thửa 2 (hình 5-6-7-8-9-10-11-12-13-14) diện tích 10.062,7m2, trong đó có diện tích nằm trong Hành lang ATGT đường bộ là 259,8m2 (hình 5-6-13-14).

Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án thể hiện tại Tờ trích đo địa chính số TĐ 15-2023 ngày 17/3/2023 thì tài sản 2 (hình 1-2-3-4-5-6-7) diện tích 12.673,0m2 trong đó có diện tích nằm trong Hành lang ATGT đường bộ là 553,7m2 (hình 4-5-6-7).

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà L xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà P trả số tiền gốc 146.000.000 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng. Bà giữ nguyên yêu cầu được chia tài sản chung là Tài sản 1, trường hợp có sự chênh lệch giá trị thì bà đồng ý chia cho ông S phần đất diện tích nằm trong Phạm vi BVCT thủy lợi và Hành lang ATGT đường bộ, nằm cặp kênh M, bà chỉ yêu cầu được chia diện tích 05 mét ngang để làm đường nước và vận chuyển máy móc, phương tiện làm lúa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 33, 38, 39 và Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị L về việc buộc bà Phạm Thị P phải trả cho bà và ông Đỗ Trí S số tiền gốc 146.000.000 đồng (một trăm bốn mươi sáu triệu đồng) và tiền lãi phát sinh.
  • - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị L về việc chia tài sản sau ly hôn.

Chia tài sản cho bà Dương Thị L quyền sử dụng đất diện tích 8.631m2 (diện tích thực tế 10.062,7m2), thuộc các thửa số 7, 7a, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất số AB 477905 ngày 01/4/2005 đứng tên ông Đỗ Trọng T, đánh biến động sang tên chuyển nhượng cho ông Đỗ Trí S ngày 16/11/2021.

Bà Dương Thị L được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích ngang 05m, chạy dài từ mé lộ đan đến mé kênh M, tính từ cạnh 1-2 giáp đất ông Phạm Tiến D theo tờ trích đo địa chính số TĐ 16-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, phần đất nằm trong phạm vi bảo vệ BVCT thủy lợi, cặp kênh M, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông S có nghĩa vụ giao cho bà Dương Thị L giấy chứng nhận QSD đất số AB 477905 ngày 01/4/2005 đứng tên ông Đỗ Trọng T, đánh biến động sang tên chuyển nhượng cho ông Đỗ Trí S ngày 16/11/2021 (bản gốc).

Chia cho ông Đỗ Trí S quyền sử dụng đất diện tích 12.284m2 (diện tích thực tế 12.673,0m2), thuộc thửa số 222, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất số AB 417198 ngày 25/4/2007 đứng tên ông Đỗ Trí S.

Ông Đỗ Trí S được tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất còn lại (đã trừ diện tích giao bà L quản lý, sử dụng), nằm trong phạm vi bảo vệ BVCT thủy lợi, cặp kênh M, theo tờ trích đo địa chính số TĐ 16-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có căn nhà A1 và A2.

- Buộc bà Dương Thị L phải trả cho cho ông Đỗ Trí S số tiền chênh lệch giá trị tài sản được chia theo tỷ lệ: Tài sản 1, bà L và ông S mỗi bên được chia 50% giá trị tài sản; Tài sản 2 (có nguồn gốc cha mẹ tặng cho ông S), bà L được hưởng 40% giá trị, ông S được hưởng 60% giá trị tài sản.

Về án phí, bà L và ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Đỗ Trí S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị P, ông Đỗ Trọng T, nhưng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, riêng bà P có yêu cầu xét xử vắng mặt, nên căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 227, khoản 2, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có đưa Ngân hàng N (A) tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên tại Thông báo số 68/TB-NHNoHĐ-KH ngày 29/8/2024, A xác nhận ông Đỗ Trí S và bà Dương Thị L hiện tại không còn dư nợ tại A, bà L cũng đồng ý không đưa A tham gia tố tụng trong vụ án, do đó Tòa án không đưa A tham gia tố tụng.

Bà Dương Thị L khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung là bất động sản sau ly hôn với ông Đỗ Trí S, ông S có nơi cư trú tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 26, điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, c, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa hai bên là tranh chấp về yêu cầu chia tài sản sau ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

[2] Xét yêu cầu chia tài sản của nguyên đơn bà Dương Thị L, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Bà Dương Thị L và ông Đỗ Trí S chung sống với nhau từ năm 1995, có đăng ký kết hôn nhưng đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 17/2018/QĐST-HNGĐ ngày 21/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất. Trong quyết định thuận tình ly hôn, ông, bà chỉ yêu cầu giải quyết vấn đề hôn nhân và nuôi con, về tài sản chung ông, bà tự thỏa thuận. Sau khi ly hôn, do không thỏa thuận được việc phân chia tài sản chung nên bà L khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của ông, bà tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là có căn cứ.

[2.2] Xét tài sản chung của bà L, ông S tạo lập trong thời kỳ hôn nhân:

Về tài sản 1, bà L và ông S đều xác nhận quyền sử dụng đất diện tích 8.631m2 (diện tích thực tế 10.062,7m2), thuộc các thửa số 7, 7a, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất số AB 477905 ngày 01/4/2005 đứng tên ông Đỗ Trọng T, đánh biến động sang tên chuyển nhượng cho ông Đỗ Trí S ngày 16/11/2021 và phần đất đối diện (diện tích thực tế 456,4m2) nằm trong phạm vi bảo vệ BVCT thủy lợi, cặp kênh M, trên đất có căn nhà A1 và A2 là tài sản chung ông S, bà L nhận chuyển nhượng của ông Đỗ Trọng T trong thời kỳ hôn nhân nên căn cứ quy định tại Điều 33 và Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình xác định tài sản 1 là tài sản chung của ông S, bà L tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và được chia theo tỷ lệ mỗi bên hưởng 50% giá trị tài sản.

Về tài sản 2 là quyền sử dụng đất diện tích 12.284m2 (diện tích 12.673,0m2), thuộc thửa số 222, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất số AB 417198 ngày 25/4/2007 đứng tên ông Đỗ Trí S, ông S cho rằng đây là tài sản riêng của ông được cha mẹ ông tặng cho vào năm 2007; tại Công văn số 779/UBND-TNMT ngày 22/8/2024, UBND huyện H cũng xác định diện tích đất nêu trên cấp cho cá nhân ông S do nhận thừa kế QSD đất của ông Đỗ Chí G. Tuy nhiên kể từ sau khi được tặng cho tài sản, ông S đã tự nguyện đưa tài sản 2 nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng, bà L, ông S còn nhiều lần sử dụng tài sản 2 để thế chấp vay vốn tại A nhằm tạo lập và phát triển kinh tế gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định tài sản 2 là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình, tuy nhiên tính công sức đóng góp của mỗi bên, xét thấy tài sản 2 nguồn gốc do cha mẹ tặng cho ông S nên ông S sẽ được hưởng giá trị tài sản cao hơn theo tỷ lệ ông S hưởng 60% và bà L hưởng 40% giá trị tài sản 2.

Về tài sản 3 là quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp diện tích khoảng 7.000m2, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, do bà Dương Thị L đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất và số tiền 676.000.000 đồng (sáu trăm bảy mươi sáu triệu đồng), bao gồm: 100.000.000 đồng ông S đưa cho bà L; 576.000.000 đồng cho bà Phạm Thị P vay, trong quá trình giải quyết vụ án bà L không có yêu cầu khởi kiện chia, ông S không có yêu cầu phản tố, bà P không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp các bên có yêu cầu khởi kiện thì được xem xét giải quyết trong một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[2.3] Về phân chia tài sản 1 và tài sản 2, trong quá trình giải quyết vụ án bà L và ông S đều yêu cầu được nhận tài sản sản 1, Hội đồng xét xử xét thấy: cả hai tài sản 1 và 2 đều có diện tích đất ruộng; tài sản 1 có thêm diện tích 300m2 là đất thổ cư nằm trong diện tích được cấp giấy và có diện tích 456,4m2 nằm trong phạm vi bảo vệ BVCT thủy lợi, cặp kênh M, chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, trên phần đất này có 02 căn nhà A1 và A2 do ông S trực tiếp quản lý, sử dụng sau khi ly hôn với bà L và tài sản 2 có nguồn gốc được cha mẹ ông S tặng cho ông S, do đó xét nên phân chia tài sản như sau:

  • - Chia cho bà L được toàn quyền quản lý, sử dụng phần diện tích đất 8.631m2, thuộc các thửa số 7, 7a, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất số AB 477905 ngày 01/4/2005 đứng tên ông Đỗ Trọng T, đánh biến động sang tên chuyển nhượng cho ông Đỗ Trí S ngày 16/11/2021 được toàn quyền quản lý, sử dụng, theo tờ trích đo địa chính số TĐ 16-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H có diện tích 10.062,7m2 (hình 5-6-7-8-9-10-11-12-13-14) và; tiếp tục giao diện tích 78,6m2, theo tờ trích đo địa chính số TĐ 16-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và sơ đồ trích đo lập ngày 31/10/2024 của Tòa án có hình 1-2-16-15, nằm trong phạm vi bảo vệ BVCT thủy lợi, cặp kênh M, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L quản lý, sử dụng nhằm tạo điều kiện cho bà L có đường nước và đường lên xuống vận chuyển lúa, máy móc làm nông nghiệp.
  • Ông S có nghĩa vụ giao cho bà Dương Thị L giấy chứng nhận QSD đất số AB 477905 ngày 01/4/2005 đứng tên ông Đỗ Trọng T, đánh biến động sang tên chuyển nhượng cho ông Đỗ Trí S ngày 16/11/2021 (bản gốc).
  • - Chia cho ông Đỗ Trí S được toàn quyền quản lý, sử dụng phần diện tích đất diện tích 12.284m2, thuộc thửa số 222, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất số AB 417198 ngày 25/4/2007 đứng tên ông Đỗ Trí S, theo tờ trích đo địa chính số TĐ 15-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H có diện tích 12.673,0m2 (hình 1-2-3-4-5-6-7) và tiếp tục giao diện tích 377,8m2, theo tờ trích đo địa chính số TĐ 16-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và sơ đồ trích đo lập ngày 31/10/2024 của Tòa án có hình 15-16-3-4, nằm trong phạm vi bảo vệ BVCT thủy lợi, cặp kênh M, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có căn nhà A1 và A2 cho ông S quản lý, sử dụng.

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật đối với tài sản được chia.

Do phân chia tài sản bằng hiện vật (quyền sử dụng đất và nhà ở) nên có sự chênh lệch giá trị, do đó bà L được chia tài sản có giá trị cao hơn phải trả giá trị chênh lệch cho ông S, cụ thể:

  • - Tổng giá trị tài sản chung theo kết quả định giá: 3.564.073.100 đồng;
  • - Theo tỷ lệ phân chia tài sản thì ông S được chia giá trị tài sản là: 1.900.209.050 đồng; bà L được chia giá trị tài sản là: 1.663.864.050 đồng.
  • -Phần tài sản bà L được chia như sau:
    • Thửa đất diện tích 8.631m2 (diện tích thực tế 10.062,7m2), thuộc các thửa số 7, 7a, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang có giá trị: 1.901.850.300 đồng;
    • Thửa đất diện tích 78,6m2, cặp kênh M, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang có giá trị: 75.613.200 đồng;
    • Tổng giá trị tài sản bà L nhận: 1.977.463.500 đồng.
  • - Phần tài sản ông S được chia:
    • Thửa đất diện tích 12.284m2 (diện tích thực tế 12.673,0m2), thuộc thửa số 222, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang có giá trị: 1.181.725.000 đồng;
    • Thửa đất diện tích 377,8m2, cặp kênh M, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, trên đất có 02 căn nhà A1 và A2 có giá trị: 404.884.600 đồng;
    • Tổng giá trị tài sản ông S nhận: 1.586.609.600 đồng.

Như vậy, bà L phải có nghĩa vụ trả số tiền chênh lệch gía trị tài sản được phân chia cho ông S là: (1.977.463.500 đồng - 1.663.864.050 đồng) = 313.599.450 đồng (làm tròn: 313.600.000 đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà L xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà Phạm Thị P trả số tiền gốc 146.000.000 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh, xét thấy việc rút đơn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn.

[4] Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá là 27.976.000 đồng (hai mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), bà Dương Thị L tự nguyện chịu, không yêu cầu ông S trả và bà L đã nộp xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà L và ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản được chia, theo đó bà L phải chịu án phí là 58.388.000 đồng và ông S phải chịu án phí là 69.006.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Áp dụng Điều 33, 38, 39 và Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; các điều 244, 70, 157, 161 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị L về việc buộc bà Phạm Thị P phải trả cho bà và ông Đỗ Trí S số tiền gốc 146.000.000 đồng (một trăm bốn mươi sáu triệu đồng) và tiền lãi phát sinh.
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị L về việc chia tài sản sau ly hôn.
    • - Chia tài sản cho bà Dương Thị L được quyền sử dụng đất diện tích 8.631m2, thuộc các thửa số 7, 7a, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 477905 ngày 01/4/2005 đứng tên ông Đỗ Trọng T, đánh biến động sang tên chuyển nhượng cho ông Đỗ Trí S ngày 16/11/2021, theo tờ trích đo địa chính số TĐ 16-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H có diện tích 10.062,7m2 (hình 5-6-7-8-9-10-11-12-13-14).
    • Bà Dương Thị L được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 78,6m2, theo tờ trích đo địa chính số TĐ 16-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và sơ đồ trích đo lập ngày 31/10/2024 của Tòa án có hình 1-2-16-15, nằm trong phạm vi bảo vệ BVCT thủy lợi, cặp kênh M, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
    • Ông S có nghĩa vụ giao cho bà Dương Thị L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 477905 ngày 01/4/2005 đứng tên ông Đỗ Trọng T, đánh biến động sang tên chuyển nhượng cho ông Đỗ Trí S ngày 16/11/2021 (bản gốc).
    • - Chia cho ông Đỗ Trí S được quyền sử dụng đất diện tích 12.284m2, thuộc thửa số 222, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất số AB 417198 ngày 25/4/2007 đứng tên ông Đỗ Trí S, theo tờ trích đo địa chính số TĐ 15-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H có diện tích diện tích 12.673,0m2 (hình 1-2-3-4-5-6-7).
    • Ông Đỗ Trí S được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 377,8m2, theo tờ trích đo địa chính số TĐ 16-2023 ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và sơ đồ trích đo lập ngày 31/10/2024 của Tòa án có hình 15-16-3-4, nằm trong phạm vi bảo vệ BVCT thủy lợi, cặp kênh M, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có căn nhà A1 diện tích 50,3m2 (ngang 4,3m, dài 11,7m) và căn nhà A2 diện tích 43,2m2 (ngang 5m, dài 8,65m).
    • Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật đối với tài sản được chia.
    • (Có trích đo sơ đồ địa chính kèm theo).
  3. Buộc bà Dương Thị L phải có nghĩa vụ giao cho cho ông Đỗ Trí S số tiền là 313.600.000 đồng (Ba trăm mười ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
  4. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Về chi phí tố tụng: Bà Dương Thị L tự nguyện chịu và đã nộp xong.
  6. Về án phí: Bà Dương Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 58.388.000 đồng (năm mươi tám triệu ba trăm tám mươi tám nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 16.995.000 đồng (mười sáu triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) bà L đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001638 ngày 15/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, như vậy bà L còn phải nộp thêm số tiền là 41.393.000 đồng (bốn mươi mốt triệu ba trăm chín mươi ba nghìn đồng).

    Ông Đỗ Trí S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 69.006.000 đồng (sáu mươi chín triệu không trăm lẻ sáu nghìn đồng).

  7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Dương Thị L có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn ông Đỗ Trí S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị P và ông Đỗ T1 vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - CCTHADS huyện Hòn Đất;
  • - Phòng KTNV và Thi hành án TA tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - UBND xã Mỹ Thuận;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp yêu cầu chia tài sản sau ly hôn

  • Số bản án: 176/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp yêu cầu chia tài sản sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn giữa Dương Thị L và Đỗ Trí S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger