|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 176/2024/HS-ST
Ngày 30/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân Xế, bà Nguyễn Thị Tám.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 161/2024/TLST-HS ngày 06/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐXXST-HS ngày 19/9/2024 đối với các bị cáo:
-
Dương Văn N, sinh năm 1998; Nơi đăng ký HKTT: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn M và bà Nguyễn Thị N1; Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 97/2022/QĐ-XPHC ngày 25/7/2022 Công an huyện Y đã xử phạt vi phạm hành chính đối với N về hành vi đánh bạc với hình thức phạt tiền. N đã chấp hành xong Quyết định ngày 26/7/2022.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
-
Trương Đức L, sinh năm 1992; Nơi đăng ký HKTT: Thôn P, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Đức T và bà Nguyễn Thị D; Có vợ là Trương Thị X và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
-
Bùi Văn T1, sinh năm 1992; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở hiện nay: Khu phố V, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T2 và bà Bùi Thị T3; Có vợ là Nguyễn Thị L1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Công an xã V kiểm tra khu nhà trọ của anh Nguyễn Văn T4 phát hiện tại phòng trọ của Dương Văn N có N, Dương Khắc T5, Trương Đức L và Bùi Văn T1 đang sử dụng trái phép ma túy.
Thu giữ mặt đệm trên giường phòng trọ của N 01 gói nilon nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1; 01 chai nhựa màu trắng, tại nắp chai đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút bằng nhựa màu cam, 01 lỗ cắm 02 ống hút bằng nhựa màu xanh, tím. Bên trong ống hút bằng nhựa màu cam có bám dính chất bột màu trắng được cho vào túi nilon màu trắng niêm phong ký hiệu M2; 02 đoạn giấy bạc trong đó 01 đoạn giấy bạc được quấn dẹt bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, 01 một đoạn giấy bạc một mặt màu đen được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M3; 01 bật lửa ga màu đỏ.
Tổ công tác đã lập Biên bản kiểm tra, niêm phong vật chứng, đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an huyện Y để giải quyết. Tại đây, các đối tượng đã đầu thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả thử nước tiểu cả 04 đối tượng đều dương tính với Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 1445/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B đã kết luận:“Chất tính thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,0717 gam; Là ma túy; Loại ma túy. Methamphetamine; 01 viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,0901gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine; Chất bột màu trắng bám dính trong ống hút nhựa màu cam bên trong túi nilon màu trắng ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine, không xác định được khối lượng; Chất tinh thể màu trắng, chất màu đen bám dính trên 02 đoạn giấy bạc bên trong phong bì thư ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, không xác định được khối lượng”.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 158/CT-VKSYP ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử các bị cáo Dương Văn N, Trương Đức L và Bùi Văn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, T5 đang ngủ ở phòng trọ của Dương Văn N thì L và T1 đến chơi. L rủ N và T1 góp tiền mua ma túy đá và ngựa về cùng sử dụng. N và T1 đồng ý. Sau đó, L góp 200.000 đồng, T1 góp 100.000 đồng, N góp 100.000 đồng, tổng số là 400.000 đồng đưa cho N đi mua ma túy. N đi bộ ra khu vực ngã ba thôn M, xã V mua 400.000 đồng được 01 gói ma túy đá và ngựa của một người đàn ông không quen biết rồi đem về phòng trọ. N lấy ra 02 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 chai bằng nhựa, bên trong có nước, trên nắp chai đục lỗ cắm 02 ống hút, 01 ống hút màu cam, 01 ống hút màu xanh tím có sẵn ở phòng trọ để lên mặt đệm trên giường. Sau đó, N bỏ gói ma túy vừa mua được để lên mặt đệm, đổ một nửa ma túy đá và 01 viên ma túy ngựa vào 01 mảnh giấy bạc quận dẹp lại, đút 01 đầu giấy bạc vào đầu ống hút cắm ở chai nhựa. Tiếp đó, N dùng bật lửa đốt lửa phía dưới mảnh giấy bạc có chứa ma túy và ngậm miệng vào ống hút còn lại cắm trong chai nhựa để sử dụng ma túy. N hút ma túy đầu tiên, sau đó tiếp tục đốt lửa để T1, sau đó đến L hút. L sử dụng ma túy xong thì để ma túy và ống hút xuống mặt đệm. Lúc này, N gọi T5 đang ngủ trên giường dậy và bảo T5 sử dụng ma túy. T5 đồng ý. L và T6 nghe và biết N bảo T5 sử dụng ma túy thì cũng đồng ý, không ngăn cản gì. N hơ lửa cho T5 sử dụng ma túy. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, khi N, T1, L và T5 đang sử dụng ma túy thì bị tổ công tác đến kiểm tra, phát hiện, thu giữ số ma túy còn lại chưa sử dụng hết cùng các dụng cụ sử dụng ma túy.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Dương Văn N, Trương Đức L và Bùi Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Dương Văn N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Trương Đức L từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/6/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định và 01 bật lửa ga màu đỏ.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án khẳng định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2024 tại phòng trọ của N ở thôn Q, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, các bị cáo N, L, T1 và T5 đã bị bắt quả tang đang sử dụng trái phép ma túy Methamphetamine. L đã rủ các bị cáo T1, N góp tiền mua ma túy về sử dụng. N đi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ, cho mượn địa điểm và là người trực tiếp sử dụng trước và hơ lửa cho các bị cáo sử dụng ma túy. N là người rủ T5 cùng sử dụng ma túy, L và T1 cũng đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Dương Văn N, Trương Đức L và Bùi Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản, trộm cắp. Nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc nhiệm vụ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo N là người thực hiện hành vi tích cực nhất nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác.
[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo T1 và L là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo N đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc năm 2022, đã chấp hành xong quyết định và được xóa tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị kiểm tra bắt qua tang, các bị cáo đã tự nguyện đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp các bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không có mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Mẫu vật còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành, 01 bật lửa không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Liên quan đến vụ án còn có người đàn ông bán ma túy cho N tại khu vực ngã ba thôn M, xã V. Tuy nhiên N không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với Dương Khắc T5 là người sử dụng trái phép chất ma túy không được bàn bạc về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xử lý hình sự đối với T5. Ngày 14/8/2024, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với T5 về hành vi “Sử dụng trái phép ma túy" là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn T4 là chủ khu trọ nhưng anh Thinh không biết việc N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xử lý đối với anh T4 là phù hợp pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Dương Văn N, Trương Đức L và Bùi Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Văn N 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Trương Đức L 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T1 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/6/2024.
Quyết định tạm giam các bị cáo N, L và T1 mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định và 01 bật lửa màu đỏ. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024).
Các bị cáo N, L và T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thanh |
Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 176/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn N đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
