|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 176/2024/DS-PT
Ngày 17 - 9 - 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Văn Nhum |
| Các thẩm phán: | Ông Phạm Tiến Hiệp |
| Bà Đinh Thị Quý Chi |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thế Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 82/2024/TLPT- DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Binh Phước bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2024/QĐXXPT-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ N, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (có mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1988; Cùng địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Trần Văn D, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ C, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (có mặt);
- 3. 2. Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước (đều có mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Phạm Văn L.
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông L, bà A: Tổ B, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 03 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Do quen biết nên ngày 01/11/2021 bà có cho ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A vay số tiền 500.000.000 đồng, khi vay hai bên có làm giấy viết tay, thỏa thuận thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày vay, không thỏa thuận lãi suất, khi vay ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A có giao cho bà 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 566236 đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ số 19 toạ lạc tại ấp F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước với diện tích 4.184,7m² được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho hộ ông Phạm Ngọc T cùng vợ là bà Nguyễn Thị H1 ngày 19/9/2019 để làm tin, đảm bảo cho việc ông L, bà A trả nợ. Tuy nhiên, từ khi vay đến nay ông L và bà A không trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc H khoản tiền nào; bà H đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng ông L, bà A vẫn không trả. Vì vậy, bà Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xem xét giải quyết buộc ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A phải trả cho bà số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng, bà sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang giữ cho ông L và bà A để ông L, bà A trả lại cho ông Phạm Ngọc T và bà Nguyễn Thị H1.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A trình bày:
Năm 2019, vợ chồng bà có vay của ông Trần Văn D số tiền 250.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi mỗi tháng là 5.000.000đồng, vì không có tài sản thế chấp và quen biết nên hai bên thỏa thuận ghi gấp đôi số tiền lên thành 500.000.000 đồng để nếu vợ chồng bà A không trả thì ông D sẽ lấy số tiền dư đó trả tiền luật sư hoặc thuê người đi đòi nợ nên vợ chồng bà A đồng ý. Sau khi thỏa thuận thì vợ chồng bà A vẫn chuyển khoản trả lãi hàng tháng cho vợ chồng ông D cho đến tháng 8 năm 2022 thì vợ chồng bà gặp khó khăn về kinh tế nên không trả tiền lãi cho ông D nên ông D mới kiện vợ chồng bà. Ngoài việc trả tiền lãi hàng tháng thì vợ chồng bà còn trả tiền gốc cho ông D hơn 100.000.000 đồng, do đó bà Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu vợ chồng bà trả lại số tiền 500.000.000 đồng thì bà không đồng ý, bà sẽ sao kê và cung cấp toàn bộ giấy trả tiền cho Tòa án trong hạn 15 ngày kể từ ngày 24/5/2023; bà A xác nhận vào ngày 01/11/2021 vợ chồng bà có ký vào giấy mượn tiền của bà Nguyễn Thị Ngọc H 500.000.000 đồng, còn nội dung kèm theo giấy mượn tiền "bên A có đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 566236 do Ủy ban nhân dân huyện Đ ký ngày 19/9/2019 để làm tin" là không có, vợ chồng bà A không có đưa cho bà Nguyễn Thị Ngọc H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn L trình bày:
Năm 2019, vợ chồng ông có vay của ông Trần Văn D số tiền 250.000.000 đồng, vì không có tài sản thế chấp và vì quen biết nên hai bên thỏa thuận ghi gấp đôi số tiền lên thành 500.000.000 đồng để nếu vợ chồng ông không trả thì ông D sẽ lấy số tiền dư đó trả tiền luật sư hoặc thuê người đi đòi nợ nên vợ chồng ông cũng vui vẽ đồng ý. Sau khi thỏa thuận thì vợ chồng ông vẫn chuyển khoản trả lãi hàng tháng 5.000.000 đồng cho vợ chồng ông D, đồng thời vợ ông có chuyển số tiền lớn hơn qua tài khoản ông D gồm 50.000.000 đồng và 03 lần mang lên tận nhà mỗi lần 20.000.000 đồng. Đến tháng 8 năm 2022, vợ chồng ông gặp khó khăn nên chuyển lãi không đều và ông D gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã N, huyện B yêu cầu giải quyết. Khi làm việc tại Ủy ban nhân dân xã N thì ông L cũng đồng ý ghi giấy nhận nợ của bà H số tiền 500.000.000 đồng để mọi việc không rắc rối, tránh mất lòng. Sau đó, ông L có đến nhà hỏi ông D sau khi trừ đi các khoản tiền gốc và lãi còn lại bao nhiêu để vợ chồng ông biết đường trả nợ và ông D có nói với ông vì số tiền nợ 250.000.000 đồng để quá lâu nên giờ ông D lấy 250.000.000 đồng tiền gốc cộng với 50.000.000 đồng tiền lãi là 300.000.000 đồng. Việc ông L có mượn nợ của ông D là có thật, việc ghi gấp đôi số tiền lên thành 500.000.000 đồng thì vợ chồng ông cũng đồng ý và ký vào giấy nợ lúc đó là năm 2019, còn giấy ngày 01/11/2021 không phải chữ ký, chữ viết của ông nên không có việc cầm cố Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 566236 do Ủy ban nhân dân huyện Đ ký ngày 19/9/2019 cho bên B. Hiện nay, do làm ăn thua lỗ ông Lâm mong ông D xem xét trừ đi các khoản tiền gốc và lãi còn lại bao nhiêu để vợ chồng ông sẽ cố gắng vay mượn trả cho ông D.
- Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc T, bà Nguyễn Thị H1 thống nhất trình bày:
Năm 2019, vợ chồng ông bà có nhờ ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông bà đưa cho ông L và bà A chi phí đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 30.000.000 đồng, sau khi đổi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông bà thì ông L, bà A không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà; ông bà đã nhiều lần yêu cầu giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà nhưng ông L và bà A cố tình né tránh, sau này ông bà mới biết ông L, bà A lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà giao cho bà Nguyễn Thị Ngọc H để làm tin đảm bảo cho việc trả nợ khoảng vay 500.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Ngọc H. Do đó, ông T, bà H1 bà yêu cầu ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A trả nợ cho bà Nguyễn Thị Ngọc H để bà Nguyễn Thị Ngọc H trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn D trình bày:
Ông D thống nhất với trình bày và yêu cầu khởi kiện của vợ ông là bà Nguyễn Thị Ngọc H, không bổ sung gì thêm.
Tại Bản án sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đã quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, buộc bị đơn ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H có nghĩa vụ trả lại cho ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 566236, thửa đất số 71, tờ bản đồ số 19, diện tích 4184,7m², tại ấp F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước cấp cho ông Phạm Ngọc T cùng vợ là bà Nguyễn Thị H1 vào ngày 19/9/2019 mà bà Nguyễn Thị Ngọc H đang giữ; ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A có nghĩa vụ trả lại giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sở hữu là ông Phạm Ngọc T, bà Nguyễn Thị H1.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Không đồng ý với Bản án sơ thẩm đã tuyên. Ngày 02/01/2024, Bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Phạm Văn L kháng cáo Bản án sơ thẩm số 70/2023/DS-ST ngày 15/9/2023, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự gồm nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thoả thuận được tất cả các vấn đề có tranh chấp của vụ án.
Đại diện viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa Bản án sơ thẩm số 70/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước theo hướng ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 15/9/2023, Toà án nhân dân huyện Bù Đăng xét xử sơ thẩm vụ án vắng mặt tất cả các đương sự và ngày 21/12/2023 ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A được tống đạt Bản án nên ngày 02/01/2024 ông L, bà A nộp đơn kháng cáo cho Toà án là trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đơn kháng cáo không có chữ ký của ông L nên Toà án nhân dân huyện Bù Đăng có Thông báo số 10/TB-TA ngày 03/01/2024 về việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Thông báo (ngày 08/01/2024), nhưng ông L không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu mà đến ngày 15/01/2024 mới nộp lại đơn kháng cáo khác có đủ chữ ký của ông L, bà A. Ngày 23/01/2024, Toà án nhân dân huyện Bù Đăng có Công văn số 50/CV-TA chuyển hồ sơ đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước xem xét kháng cáo của ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị Thúy A.
Ngày 05/3/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước ra quyết định mở phiên họp xét kháng cáo quá hạn số 03/2024/QĐ-PT và đến ngày 12/4/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước ban hành Phiếu chuyển hồ sơ số 13/PC-TA yêu cầu Toà án nhân dân huyện Bù Đăng tiếp nhận đơn kháng cáo của đương sự và làm các thủ tục theo quy định vì kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Phạm Văn L là kháng cáo trong hạn theo khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do đó, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị Thúy A, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn D, ông Phạm Ngọc T và bà Nguyễn Thị H1 đã thoả được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể:
- - Ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị Thúy A có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) với phương thức: Trả 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) trong tháng 9/2024, còn lại 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu đồng) trả trong 05 tháng tiếp theo với mức 50.000.000 đồng/tháng (năm mươi triệu đồng mỗi tháng). Trường hợp ông L, bà A vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ông D và bà H có quyền yêu cầu thi hành án đối với tất cả số tiền chưa trả.
- - Ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị Ngọc H có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Ngọc T và bà Nguyễn Thị H1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 566236 đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ số 19, diện tích 4184,7m² toạ lạc tại ấp F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước cấp ngày 19/9/2019 cho ông Phạm Ngọc T cùng vợ là bà Nguyễn Thị H1. Ông Phạm Ngọc T có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị Ngọc H 20.000.000 đồng.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận, cần sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
[3] Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Do Bản án sơ thẩm bị sửa về phần nghĩa vụ trả nợ nên cần được tính lại, cụ thể ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị Thúy A phải chịu 5% x 350.000.000 đồng = 17.500.000 đồng.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Do các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm nên bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Phạm Văn L phải chịu.
[4] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
1. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị Thúy A, ông Trần Văn D, ông Phạm Ngọc T và bà Nguyễn Thị H1, với nội dung cụ thể như sau:
- - Ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị Thúy A có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) với phương thức: Trả 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) trong tháng 9/2024, còn lại 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu đồng) trả trong 05 tháng tiếp theo với mức 50.000.000 đồng/tháng (năm mươi triệu đồng mỗi tháng). Trường hợp ông L, bà A vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ông D và bà H có quyền yêu cầu thi hành án đối với tất cả số tiền chưa trả.
- - Ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị Ngọc H có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Ngọc T và bà Nguyễn Thị H1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 566236 đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ số 19, diện tích 4184,7m² toạ lạc tại ấp F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước cấp ngày 19/9/2019 cho ông Phạm Ngọc T cùng vợ là bà Nguyễn Thị H1. Ông Phạm Ngọc T có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị Ngọc H 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). (ông T, bà H1 và ông D, bà H đã thực hiện thoả thuận này ngay tại phiên toà).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị Thúy A phải chịu 17.500.000 đồng (mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Bà Nguyễn Thị Ngọc H không phải chịu, được trả lại số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000976 ngày 06 tháng 4 năm 2023.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị Thúy A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0009200 ngày 16 tháng 5 năm 2024.
3. Các quyết định khác của B sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Nhum |
Bản án số 176/2024/DS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 176/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợpk đồng vay tài sản nguyễn thị ngọc hà - phạm văn lâm
