Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/7/2024.

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Thúy Bắc.
  2. Ông Hà Công Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa:

1.Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1977.

Địa chỉ: 17/66, ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2.Bị đơn: Chị Trần Thanh T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: 17/66, ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn và bị đơn có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Quang B có lời trình bày:

Năm 1993, anh Nguyễn Quang B và chị Trần Thị Thanh T1 có tiến đến hôn nhân trên tin thần tự nguyện của hai bên, hai người có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre ngày 07/7/2009.

Sau khi kết hôn anh và chị sống hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẩn mà nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều quan điểm sống khác nhau, thường xảy ra cãi vã. Hiện hai người sống chung một nhà nhưng thực tế đã ly thân với nhau, mạnh ai nấy sống, hiện tại đời sống vợ chồng anh không còn hạnh phúc. Hai bên đã nhiều lần trao đổi, nói chuyện nhằm mục đích đoàn tụ nhưng không thành.

Nay anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thanh T1, anh không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân có 01 người con chung là cháu Nguyễn Quang Nhựt T2, sinh ngày 02/11/1998, hiện đã thành niên có khả năng lao động và tự nuôi sống được bản thân.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn chị Trần Thanh T1 có lời trình bày:

Về thời gian kết hôn, thời gian sống chung và con chung chị đồng ý với lời trình bày của anh B.

Còn về nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn là do anh B làm ăn thua lỗ nhưng không rõ bao nhiêu, anh B kêu chị đưa sổ đỏ để cầm 200.000.000đồng để trả nợ.

Ngoài ra từ tháng 5/2023 đến nay anh B thường bỏ nhà ra đi nhiều lần, mỗi lần từ 7 đến 10 ngày, chị có hỏi thì anh B không trả lời.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân có 01 người con chung là cháu Nguyễn Quang Nhựt T2, sinh ngày 02/11/1998, hiện đã trưởng thành có gia đình riêng nên chị không có yêu cầu gì về người con chung này.

Về nợ chung: Chị và anh B vay Ngân hàng A 200.000.000đồng, thế chấp phần đất vườn hơn 2 công để vay. Ngoài ra còn nợ bà Phan Thị N ấp T, thị trấn C 150.000.000đồng, nợ bà Trần Thị Kim T3 ấp T, thị trấn C 200.000.000đồng, nợ bà Nguyễn Thị Y vòng xoay xã S 150.000.000đồng, nợ ông Trương Thanh P xã Hòa Nghĩa 50.000.000đồng và nợ ông Nguyễn Phương T4 xã Hòa Nghĩa 40.000.000đồng. Số nợ này là nợ chung của gia đình, vay để trị bệnh cho anh B, cải tạo vườn, làm đám cưới cho con trai. Chị đề nghị giải quyết xong các khoản nợ này thì mới giải quyết đến việc ly hôn.

Về tài sản chung: Chị và anh B có tài sản là 01 phần đất nền nhà khoảng 300m² ở xã H có căn nhà trên đất (nhà và đất do cha mẹ chồng cho, chồng đứng tên, vợ chồng chị có tu sửa), hơn 2 công đất vườn ở thị trấn C do vợ chồng cùng đứng tên, 01 chiếc xe máy hiệu Future neo mua năm 2010 và 01 chiếu xe máy Drem 02 xe do anh B đứng tên. Chị đề nghị giải quyết xong các tài sản này thì mới giải quyết đến việc ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn, về con chung hiện đã thành niên có khả năng lao động và tự nuôi sống được bản thân. Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, bị đơn khai có tài sản chung và nợ chung và yêu cầu Tòa án giải quyết xong nợ chung và tài sản chung mới giải quyết hôn nhân, tuy nhiên Tòa án đã yêu cầu bị đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến lời khai nhưng bị đơn không cung cấp và cũng không làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung nên đề nghị không

xem xét lời trình bày của bị đơn trong vụ án này, trường hợp bị đơn có yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung thì có quyền làm đơn khởi kiện sau khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:

    Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Ly hôn” được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  2. Về nội dung:

    Nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 07/7/2009 đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn mà nguyên nhân theo nguyên đơn nêu là do vợ chồng có nhiều quan điểm sống khác nhau, thường xảy ra cãi vã, hiện hai người sống chung một nhà nhưng thực tế đã ly thân với nhau, mạnh ai nấy sống, hiện tại đời sống vợ chồng anh không còn hạnh phúc và hai bên đã nhiều lần trao đổi, nói chuyện nhằm mục đích đoàn tụ nhưng không thành. Bị đơn cũng trình bày hai bên có mâu thuẩn do anh B làm ăn thua lỗ nhưng không rõ bao nhiêu, anh B kêu chị đưa sổ đỏ để cầm 200.000.000đồng để trả nợ và ngoài ra từ tháng 5/2023 đến nay anh B thường bỏ nhà ra đi nhiều lần, mỗi lần từ 7 đến 10 ngày, chị có hỏi thì anh B không trả lời.

    Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử nhận định nguyên đơn cương quyết ly hôn còn bị đơn dù biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng bị đơn không cùng nguyên đơn có các biện pháp tích cực nhằm cải thiện tình trạng hôn nhân của cả hai để kéo dài mối quan hệ hôn nhân. Như vậy tình trạng hôn nhân của cả hai đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử cần thiết phải chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn là do sự tự nguyện của nguyên đơn vì vậy cần ghi nhận.

    Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân có 01 người con chung là cháu Nguyễn Quang Nhựt T2, sinh ngày 02/11/1998, 02/11/1998, hiện đã thành niên có khả năng lao động và tự nuôi sống được bản thân.

    Về tài sản chung: Nguyên đơn trình bày tự thỏa thuận, bị đơn không có đơn yêu cầu giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

    Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có, bị đơn trình bày có nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

    Trường hợp các bên có yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung thì có quyền làm đơn khởi kiện sau khi ly hôn.

    Lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tại phiên tòa về hình thức, nội dung vụ án là phù hợp với việc xem xét, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng nguyên đơn phải có nghĩa vụ chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001315 ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 và 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Quang B.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quang B được ly hôn với chị Trần Thanh T1.

    Ghi nhận anh Nguyễn Quang B và chị Trần Thanh T1 không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn.

  2. Về con chung:

    Có 01 người con chung là cháu Nguyễn Quang Nhựt T2, sinh ngày 02/11/1998, 02/11/1998, hiện đã thành niên có khả năng lao động và tự nuôi sống được bản thân.

  3. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Anh Nguyễn Quang B phải có nghĩa vụ chịu số tiền 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001315 ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Chợ Lách, tỉnh BT;
  • - Chi cục THADS huyện C, tỉnh BT;
  • - UBND xã H, huyện C, tỉnh BT;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Chí Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 176/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang B- Trần Thị Thanh Trúc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger