|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 176/2023/HSST Ngày: 14 - 11 - 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Đình Thức;
- 2/ Bà Nguyễn Thị thanh Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Lê Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 190/2023/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2023/QĐXXST-HS ngày 26/10/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức Đ; sinh năm 1990, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: tổ C K, phường Đ, quận H, TP .; chổ ở hiện nay: B đường B, phường B, quận T, TP .; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1969; vợ, con: chưa.
Nhân thân: Ngày 06/6/2014 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Ngày 19/9/2014 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 103/2014/HSST ngày 06/6/2014 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt cho cả hai bản án là 45 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/02/2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị bắt tạm giữ ngày 16/06/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T3 và có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: chị Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1991; trú tại: D đường T, phường H, quận T, TP . (Có mặt).
- Người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thảo L1, sinh năm 2002; trú tại: tổ B, khu V, phường B, TP ., tỉnh Bình Định (Vắng mặt).
- Chị Lê Thị Quỳnh N, sinh năm 1993; trú tại: 5 Sau G, phường P, TP ., tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt).
- Anh Trịnh Văn C, sinh năm 1971; trú tại: I H, phường L, TP ., tỉnh Bình Định (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1979; trú tại: F đường T, phường V, TP ., tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980; trú tại: I H, phường L, TP ., tỉnh Bình Định (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 03/2022, chị Nguyễn Thanh L có mối quan hệ tình cảm với Nguyễn Đức Đ. Khoảng 18 giờ ngày 04/4/2022, Đ đến phòng trọ số 002 tại địa chỉ nhà số D đường T, phường H, quận T, thăm chị L rồi cả hai đi ăn bên ngoài. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Đ và chị L về lại nhà trọ, rồi chị L đi vào nhà vệ sinh thì Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị L để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, Đ tiếp cận, lén lút mở giỏ xách của chị L rồi lấy điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh, giấy đăng ký xe biển số 77K1-230.37 cùng chìa khóa xe rồi xuống hầm lấy xe máy biển số 77K1-230.37 điều khiển đến thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và chặn liên lạc với chị L. Trên đường đi, Đại tháo bỏ sim điện thoại của chị L. Đến khoảng 09 giờ ngày 05/4/2022, Đ bán điện thoại di động của chị L cho cửa hàng điện thoại di động Minh P, địa chỉ số A Q, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, do chị Lê Thị Quỳnh N làm chủ, qua kiểm tra điện thoại không bị khóa nên chị N đồng ý mua với giá 23.000.000 đồng và chụp hình chân dung cùng căn cước công dân của Đ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Đ bán xe máy biển số 77K1-230.37 cho anh Nguyễn Đình T là chủ cửa hàng mua bán xe Tí Sport, địa chỉ số F T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và nói xe của vợ đang đi làm, hứa sẽ cung cấp căn cước công dân của vợ sau, nên anh T đồng ý mua với giá 32.000.000 đồng. Đến ngày 06/4/2022, Đ thuê phòng trọ số 503 nhà số B B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, đến ngày 10/6/2022 thì bị bắt.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Ngoài ra, Đ còn thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 xe máy biển số 47B1 - 681.60 của chị Nguyễn Thị Thu Q tại Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Cơ quan điều tra quận T đã thông báo đến Công an Thành phố B để phối hợp điều tra.
Theo Kết luận định giá tài sản số 580/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận T, thời điểm định giá ngày 04/4/2022, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax trị giá 25.690.000 đồng; 01 xe máy hiệu Honda, loại SH Mode, biển số 77K1-230.37 trị giá 51.500.000 đồng. Tổng giá trị là 77.190.000 đồng.
Vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh là tài sản cá nhân của chị L. Hiện chị Lê Thị Quỳnh N đã bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch), nên không thu hồi được.
- 01 xe máy hiệu Honda Sh Mode 125 do chị Nguyễn Thanh L đứng tên chủ sở hữu. Sau khi mua xe máy trên của Đ, anh Nguyễn Đình T đã bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch). Cơ quan điều tra đã trao trả xe máy trên cho chị Nguyễn Thanh L.
- 01 quần tay dài màu xanh, 01 áo thun màu xám ngắn tay có cổ. Đại mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 146/PNK ngày 21/11/2022 của Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T.
Về dân sự: Chị Nguyễn Thanh L đã nhận lại xe và yêu cầu bồi thường số tiền 70.000.000 đồng gồm 10.000.000 đồng (chi phí sơn lại xe và thay lại ổ khóa), 30.000.000 đồng tiền bồi thường trị giá chiếc điện thoại Iphone 13 Promax 128Gb, 30.000.000 đồng bồi thường tổn thất tinh thần.
Tại bản cáo trạng số: 187/CT-VKSQ.TP ngày 23 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận T, TP . đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng. - Bị cáo Nguyễn Đức Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
-
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/4/2022, Nguyễn Đức Đ có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe máy hiệu Honda Sh Mode, biển số 77K1-230.37 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, tổng trị giá là 77.190.000 đồng của chị Nguyễn Thanh L tại nhà số D T, phường H, quận T, TP ..
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Xét tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
-
Đối với việc chứng thực hợp đồng mua bán xe máy biển số 77K1-230.37 sau khi xe đã bị trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, tỉnh Bình Đình đã tiến hành xác minh, kết quả xác định không có dấu hiệu của tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Ngày 05/6/2023, Phòng C1 Công an tỉnh B ra Quyết định thu hồi biển số xe, giấy chứng nhận đăng ký xe Sh Mode 77K1-230.37 mang tên Nguyễn Thảo L1.
Đối với chị Lê Thị Quỳnh N, anh Trịnh Văn C, anh Nguyễn Đình T mua điện thoại di động, xe máy do Nguyễn Đức Đ trộm cắp tài sản. Khi mua các tài sản trên, không biết là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở.
- Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, chị Nguyễn Thanh L đã nhận lại xe và yêu cầu bồi thường số tiền 70.000.000 đồng gồm 10.000.000 đồng (chi phí sơn lại xe và thay lại ổ khóa), 30.000.000 đồng tiền bồi thường trị giá chiếc điện thoại Iphone 13 Promax 128Gb, 30.000.000 đồng bồi thường tổn thất tinh thần. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại. Xét việc thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử công nhận. Buộc bị cáo Nguyễn Đức Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thanh L số tiền 70.000.000 đồng là phù hợp.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh là tài sản cá nhân của chị L. Hiện chị Lê Thị Quỳnh N đã bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch), nên không thu hồi được.
- - Đối với 01 xe máy hiệu Honda Sh Mode 125 do chị Nguyễn Thanh L đứng tên chủ sở hữu. Sau khi mua xe máy trên của Đ, anh Nguyễn Đình T đã bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch).
Qua xác minh, xe máy Honda Sh Mode 125, biển số: 77K1-230.37 của chị Nguyễn Thanh L đã được sang tên cho chị Nguyễn Thảo L1 vào ngày 23/5/2022. Chị L1 cho biết đã mua xe trên tại cửa hàng mua bán xe máy “Cường” địa chỉ I H, thành phố Q, tỉnh Bình Định do anh Trịnh Văn C làm chủ, với giá 50.500.000 đồng vào ngày 08/5/2022 và thỏa thuận phía cửa hàng sẽ làm thủ tục sang tên xe cho chị L1 và chị L1 không ký giấy tờ thủ tục. Đến ngày 23/5/2022, chị L1 nhận được giấy đăng ký xe mang tên mình, chị L1 không biết xe máy trên là do người khác trộm cắp mà có. Sau khi biết thông tin, chị L1 đã trả lại xe cho anh C và đã được anh C đưa cho một chiếc xe SH Mode khác giá trị tương đương.
Qua làm việc với anh Trịnh Văn C và liên hệ xác minh tại Phòng C1 Công an tỉnh B, được biết anh C đã mua lại xe Honda Sh Mode 125, biển số 77K1-230.37 từ một người đàn ông làm nghề môi giới mua bán xe máy cũ tên T1 (chưa rõ lai lịch) vào khoảng giữa tháng 4/2022 với giá 46.500.000 đồng. Đến ngày 08/5/2023, anh C đã bán lại xe máy trên cho chị Nguyễn Thảo L1 với giá 50.500.000 đồng và thỏa thuận sẽ làm thủ tục sang tên cho L1. Sau đó, vợ của anh C là Nguyễn Thị H2 nhờ anh Đỗ Thế H3 chứng thực giúp hợp đồng mua bán xe giữa chủ xe là Nguyễn Thanh L và Nguyễn Thảo L1. Ngày 12/5/2022, H3 đã đem hợp đồng mua bán xe trên cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Thanh L đến Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định gặp anh Võ Sỹ H4 (công chức tư pháp của ủy ban xã) để chứng thực. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, anh H4 kiểm tra và trình cho ông Trương Đình T2 (Chủ tịch xã) ký chứng thực hợp đồng mua bán xe máy trên (số chứng thực 456 quyển số 1/2022-SCT/HĐ,GD). Sau đó, chị H2 nộp hồ sơ sang tên xe máy biển số 77K1-230.37 đến Phòng C1 Công an tỉnh B và đến ngày 23/5/2023 được cấp giấy đăng ký xe mới mang tên chủ xe Nguyễn Thảo L1.
Sau khi chị L1 trả lại xe máy trên, anh C đã liên hệ và trả lại xe cho anh T là chủ cửa hàng mua bán xe “Tí Sport”. Đến ngày 22/8/2023, anh T đã giao nộp lại xe máy trên, nhưng xe đã bị thay đổi dàn nhựa bên ngoài xe (từ màu xanh sang màu xám đen) và ổ khóa công tắc xe (từ ổ khóa smartkey sang ổ khóa cơ). Cơ quan điều tra đã trao trả xe máy trên cho chị Nguyễn Thanh L là phù hợp.
- Đối với 01 quần tay dài màu xanh, 01 áo thun màu xám ngắn tay có cổ. Đại mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
-
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 16/06/2022.
-
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thanh L số tiền 70.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 quần tay dài màu xanh, 01 áo thun màu xám ngắn tay có cổ.
Hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 146/PNK ngày 21/11/2022 của Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T.
-
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Buộc bị cáo Nguyễn Đức Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo Nguyễn Đức Đ, người bị hại chị Nguyễn Thanh L có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 176/2023/HSST ngày 14/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 176/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
