Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN CHÂU

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 176/2023/HSST

Ngày: 11/8/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Tân.
Bà Lý Thị Vinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 11/8/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 174/2023/TLST-HS ngày 18/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2023/QĐXXST-HS ngày 31/7/2023 đối với các bị cáo:

  1. Cà Văn S; Tên gọi khác: Không; Sinh năm : 1986 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản S, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cà Văn T( đã chết) và bà: Cà Thị H, sinh năm: 1962; Bị cáo có vợ: Lò Thị T, sinh năm: 1985 và 03 con lớn nhất 17 tuổi nhỏ nhất 02 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2023 cho đến nay, có mặt.
  2. Lường Văn K; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2000 tại xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn D, sinh năm: 1977 và bà: Quàng Thị D, sinh năm: 1978; Bị cáo có vợ: Quàng Thị B, sinh năm: 2000 và 03 con lớn nhất 02 tuổi nhỏ nhất 01 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2023 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 14/4/2023 tổ công tác Công an xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản Ba Nhất 2, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu phát hiện bắt quả tang Cà Văn S, Lường Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Vật chứng thu giữ gồm: Một gói nilon màu trắng bên trong có chứa một ít chất bột cục màu trắng nghi là Heroine và 02 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (S, K khai nhận là Heroine và ma túy tổng hợp).

Ngày 14/4/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Cà Văn S, Lường Văn K khối lượng 0,14 gam trích rút 0,14 gam( ký hiệu S1) gửi giám định chất và loại ma túy. Cân tịnh 02 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp thu giữ của Cà Văn S, Lường Văn K khối lượng 0,08 gam trích 0,08 gam ( ký hiệu S2) gửi giám định chất và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 824/KL-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu S1 là ma túy; loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu S2 là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ gồm: 0,14 gam loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,08 gam loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, Cà Văn S, Lường Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 14/4/2023 Cà Văn S đang chơi tại bản N, xã C, huyện Thuận Châu thì gặp Lường Văn K. Gặp nhau S hỏi K có tiền không thì bỏ tiền ra trước đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. K đồng ý và ứng ra số tiền 200.000 đồng. S hứa khi nào có tiền sẽ trả cho K 100.000 đồng sau. Sau đó S cùng K đi bộ đến bản Thôm 1, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu. Khi đi đến đây S và K gặp và hỏi mua của người đàn ông dân tộc Thái ( S, K không biết tên, tuổi, địa chỉ) mua được một lượng Heroine và 02 viên hồng phiến được gói bằng nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy S cất giấu trong túi quần đằng trước bên phải đang mặc, rồi cùng K đi tìm chỗ sử dụng ma túy, khi đi đến bản Ba Nhất 2, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu thì bị Tổ công tác Công an xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu yêu cầu kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra Tổ công tác đã phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Tổ công tác đã đưa Cà Văn S và Lường Văn K về trụ sở UBND xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Sau đó, Tổ công tác dẫn giải Cà Văn S và Lường Văn K về Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 128/CT-VKS-TC ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố Cà Văn S, Lường Văn K về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Cà Văn S, Lường Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo Cà Văn S, Lường Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Cà Văn S, Lường Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự:

  • Xử phạt bị cáo Cà Văn S từ 20 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2023.
  • Xử phạt bị cáo Cà Văn S từ 18 đến 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2023.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :

  • - Tuyên tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có : 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lò Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn K.

Ý kiến của bị cáo Cà Văn S, Lường Văn K: Đều nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng của các bị cáo Cà Văn S, Lường Văn K thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chính cho các bị cáo và xin miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội của bị Cà Văn S và Lường Văn K nhận thấy: Ngày 14/4/2023 Cà Văn S đang chơi tại bản N, xã C, huyện Thuận Châu thì gặp Lường Văn K. Gặp nhau S hỏi K có tiền không thì bỏ tiền ra trước đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. K đồng ý và ứng ra số tiền 200.000 đồng. S hứa khi nào có tiền sẽ trả cho K 100.000 đồng sau. Sau đó S cùng K đi bộ đến bản Thôm 1, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu. Khi đi đến đây S và K gặp và hỏi mua của người đàn ông dân tộc Thái ( S, K không biết tên, tuổi, địa chỉ) mua được một lượng Heroine và 02 viên hồng phiến được gói bằng nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy đang đi tìm chỗ sử dụng ma túy, khi đi đến bản Ba Nhất 2, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu thì bị Tổ công tác Công an xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu yêu cầu kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra Tổ công tác đã phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Tổ công tác đã đưa Cà Văn S và Lường Văn K về trụ sở UBND xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Cà Văn S, Lường Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy 0,14 gam loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,08gam loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 0,22 gam nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của các bị cáo phù hợp với:

Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong; Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.

[3] Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,14 gam loại Heroine và 0,08gam loại Methamphetamine trong người với mục đích để sử dụng của Cà Văn S, Lường Văn K đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, vai trò của các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo Lường Văn K sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là người dân tộc thiểu số, không có trình độ văn hóa và bị cáo Cà Văn S trình độ văn hóa thấp, các bị cáo nhận thức pháp luật có phần hạn chế đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo được quy định tại điểm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự.

Về vai trò đồng phạm : Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, trong đó Cà Văn S giữ vai trò khởi xướng, rủ rê, trực tiếp đi mua ma túy. Bị cáo Lường Văn K giữ vai trò đồng phạm tích cực cùng trực tiếp đi mua ma túy thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để cá thể hóa hành vi phạm tội của mỗi bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Các bị cáo không có tài sản riêng, bị cáo Lường Văn K là hộ nghèo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cà Văn S, Lường Văn K.

[6] Về nguồn gốc số ma túy: Cà Văn S, Lường Văn K khai nhận mua của một người đàn ông dân tộc Thái tại bản Thôm 1, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La với giá 200.000 đồng vào ngày 14/4/2023 nhưng do S, K không biết họ tên, tuổi và địa chỉ cư trú của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra xử lý.

[7] Vật chứng vụ án: Đối với một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Bị cáo Lò Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lường Văn K là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Cà Văn S, Lường Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Cà Văn S 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2023.

    Xử phạt bị cáo Lường Văn K 20( Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2023.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với các bị cáo Cà Văn S, Lường Văn K.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong, có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi : Vật chứng nhập kho vụ Cà Văn S cùng đồng phạm- Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 14/4/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 025710 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt là Lường Văn K, điểm chỉ ngón trỏ phải Cà Văn S và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu bên trong có : 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lò Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

    Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn K.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự : Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Vì các lẽ trên,

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND (02 bản);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La
  • - CA huyện Thuận Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Châu;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu:Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Tiến Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2023/HSST ngày 11/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 176/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cà Văn S- Lường Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger