Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 176/2024/DS-ST

Ngày: X/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vũ V

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Mỹ
  2. Ông Khưu Hán Q

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy D - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày X tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 207/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-DS ngày 06/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-DS ngày 22/5/2024 và Thông báo về việc không tiến hành phiên tòa số 90/2024/TB ngày 18/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam); địa chỉ: I đường P, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 23/6/2000; địa chỉ: phòng D, tầng D, tòa nhà S đường T, phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Bà Phạm Thị Anh T, sinh ngày 01/5/1975; địa chỉ thường trú: 18PB Cư xá P đường L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 30/8/2023, bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 09/02/2022, Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T1) có ký Hợp đồng tín dụng số 2869466 với bà Phạm Thị Anh T để cấp tín dụng với khoản vay trị giá 33.046.000 đồng. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng. Bà T có trách nhiệm trả góp hàng tháng với số tiền 1.931.208 đồng trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 15/3/2022 đến ngày 15/02/2024 cho Công ty T1.

Kể từ ngày 19/7/2022 cho đến nay, bà T không thanh toán theo đúng hợp đồng, Công ty M nhiều lần liên hệ nhắc nhở nhưng bà T vẫn vi phạm hợp đồng. Do đó, Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Phạm Thị Anh T thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 27/7/2023 là 39.687.210 đồng, bao gồm:

  • số tiền nợ gốc: 28.022.643 đồng.
  • số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán: 7.459.622 đồng.
  • số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 3.793.697 đồng
  • số tiền lãi chậm trả 411.248 đồng

Ngoài ra bà T còn phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 28/7/2023 cho đến khi thi hành xong bản án.

* Đối với bị đơn bà Phạm Thị Anh T:

Theo vào Kết quả xác minh của Công an P, Quận A: “Đương sự Phạm Thị Anh T, sinh năm 1975 có hộ khẩu thường trú tại số A đường L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện đang cư trú tại số A đường C, tổ B, Phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Công an Phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì “Qua rà soát hiện tại tại số nhà A đường C, tổ B, Phường A, Thành phố T không có nhân khẩu Phạm Thị Anh T, SN 1975 thực tế cư trú tại địa chỉ trên”. Tòa án nhân dân Quận X đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn, nhưng phía bị đơn đã không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến đối với phía bị đơn được.

* Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan A vắng mặt nhưng gửi bảng tính lãi tính đến ngày X/7/2024, tổng số nợ bà Phạm Thị Anh T phải có trách nhiệm thanh toán là 54.074.331 đồng, bao gồm: số nợ gốc là 28.022.643 đồng, số tiền lãi trong hạn: 8.977.917 đồng, số tiền lãi quá hạn: 15.835.980 đồng, tiền lãi chậm trả 1.237.791 đồng và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 12/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chưa đảm bảo thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đối với yêu cầu của nguyên đơn về buộc bị đơn trả nợ gốc và nợ lãi quá hạn là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên đối với nợ lãi trong hạn và nợ lãi chậm trả: Theo bảng tóm tắt sao kê thể hiện bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ kỳ thứ 6 và nguyên đơn đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 15/8/2022 đến nay, do vậy theo cách tính của nguyên đơn thể hiện trong bảng sao kê không có khoảng nợ gốc nào trong hạn nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu tính lãi trong hạn và lãi chậm trả. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ gốc và nợ lãi quá hạn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe đương sự có mặt tại phiên tòa trình bày, căn cứ vào nội dung tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Công ty T1 khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Anh T về hợp đồng vay tài sản nên đây là vụ án tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà T có nơi cư trú cuối cùng tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo hướng dẫn tại điểm e khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyễn Thị Lan A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 09/7/2024 Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 22/5/2024, ngày 19/6/2024 và 8 giờ 00 phút ngày X/7/2024, bị đơn đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu số tiền nợ của nguyên đơn:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, nhưng phía bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền vốn và lãi nêu trên cho nguyên đơn. Như vậy bị đơn đã tự tước bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình nên căn cứ theo Khoản 2, Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3398074 ngày 15/7/2022 được ký kết giữa Công ty T1 với bà Phạm Thị Anh T, đây là hợp đồng điện tử đã thỏa mãn các quy định về Luật Giao dịch điện tử năm 2005, do đó có cơ sở để xác định bà Phạm Thị Anh T đã vay của Công ty T1 số tiền 33.046.000 đồng (Ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán; việc Công ty T1 khởi kiện yêu cầu bà T trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và Khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận là phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở buộc bà Phạm Thị Anh T có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T1 số tiền còn nợ tính đến ngày X/7/2024 là 54.074.331 đồng, bao gồm: số tiền nợ gốc: 28.022.643 đồng, số tiền lãi trong hạn: 8.977.917 đồng, số tiền lãi quá hạn: 15.835.980 đồng, tiền lãi chậm trả 1.237.791 đồng và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 12/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ.

[4] Về án phí:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 54.074.331 đồng được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự là 2.703.717 (hai triệu bảy trăm lẻ ba nghìn bảy trăm mười bảy) đồng.

[5] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X tại phiên tòa:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ gốc và nợ lãi quá hạn.

Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ vay bao gồm số tiền nợ gốc, số tiền lãi trong hạn, số tiền lãi quá hạn và tiền lãi chậm trả là đúng theo quy định tại Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016. Đối với các nội dung khác, Hội đồng xét xử chấp nhận với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty T1.
  2. Buộc bà Phạm Thị Anh T có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T1 số tiền còn nợ tính đến ngày X/7/2024 là 54.074.331 (Năm mươi bốn triệu không trăm bảy mươi bốn nghìn ba trăm ba mươi mốt) đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 12/7/2024 bà Phạm Thị Anh T còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên đã ký thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty T1 cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty T1 cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty T1 cho vay.

  3. Về án phí:
  4. Phạm Thị Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.703.717 (Hai triệu bảy trăm lẻ ba nghìn bảy trăm mười bảy) đồng.

    Hoàn trả lại cho Công ty T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 922.988 (Chín trăm hai mươi hai nghìn chín trăm tám mươi tám) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021622 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận X;
  • - Chi cục THADS Quận X;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Vũ V

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176 ngày 11/07/2024 của TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 176
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger