|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 176/2023/HSST Ngày: 06/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Loan.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Chiến
- 2. Bà Nguyễn Thị Hiền
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đỗ Ngọc Minh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 142/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 154/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn V (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam. Sinh ngày 03/3/1987, tại huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện nay: tổ C, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ văn hóa: lớp 5/12. Con ông: Nguyễn Văn H (đã chết). Con bà: Đinh Thị H1. Có vợ là Phạm Thị H2, có hai con lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt ngày 09/8/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Ông Lê Văn S, sinh ngày 1958 (nơi cư trú: tổ D, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh).
- Ông Lê Văn K sinh ngày 1958 (nơi cư trú: tổ C, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh).
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn V nghiện ma túy đá từ khoảng 2021 cho đến nay. Khoảng 21h30 phút ngày 09/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên V đi bộ đến khu vực Bệnh viện đa khoa thành phố C mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ lai lịch địa chỉ) 01 túi ma túy đá với giá 200.000đồng. Sau đó V cầm túi ma túy đá vừa mua được rồi đi đến khu vực B phường C để tìm chỗ sử dụng. Nhưng vừa đến khu vực đường G thuộc tổ E, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ: trong tay trái của V 01 túi nilon kích thước (1,5 x 2,5) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Tại Kết luận giám định số 1158/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: chất tinh thể màu trắng trong một túi nilon thu giữ của Nguyễn Văn V gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine khối lượng là 0,153 gam.
Người chứng kiến là ông Lê Văn S và Lê Văn K có lời khai phù hợp với nội dung vụ án, chứng kiến Công an kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Văn V tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng và niêm phong ma túy theo quy định pháp luật.
Cáo trạng số 147/CT-VKSCP ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 09/8/2023. Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định.
Bị cáo không có ý kiến gì về Kết luận giám định số 1158/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả và bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 22giờ 10 phút ngày 09/8/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, Kết luận giám định số 1158/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q và phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Lê Văn S và Lê Văn K, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: hồi 22giờ 10 phút ngày 09/8/2023, tại tổ E, khu F, phường C, thành phố C, Nguyễn Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 0,153 gam chất ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm...
a)
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại của ma túy và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy, nhưng bị cáo vẫn tàng trữ ma túy để phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên cũng xét: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là đối tượng nghiện ma túy, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng: theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy Methamphetamine được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 1158/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành.
[6] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Đối với người đàn ông theo V khai đã bán ma túy cho vui, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn V 13(mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 09/8/2023.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 1158/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh Q (Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 15 /BB-THA ngày 31 /10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).
Bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 176/2023/HSST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 176/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
