|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 176/2025/HSST Ngày: 16 – 06 – 2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Văn Hoàng;
2/ Ông Nguyễn Hoàng Tú.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diễm K – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 177/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh năm: 1996 tại tỉnh Bắc Giang; thường trú: Thôn Q, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: không có chỗ ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Nùng, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Văn D và con bà Nguyễn Thị H2;
Chưa có chồng con
Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam từ ngày: 25/12/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1994; Địa chỉ: 4 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; Địa chỉ: 1 N, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Mai H2, sinh năm 1995; Địa chỉ: 2 đường B nối dài, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
- Bà Hồ Ngọc Hoàng O, sinh năm 2001; Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1990; Địa chỉ: C B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
- Bà Đàm Thị H3, sinh năm 1997; Địa chỉ: 1 đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh H1 và Nguyễn Văn T là bạn bè với nhau. Nguyễn Thị H là gái bán dâm. H1 đã nhiều lần liên hệ với H để mua dâm và tìm gái bán dâm nên biết giá mỗi lần mua dâm là 5.000.000 đồng và thanh toán tiền trực tiếp cho gái bán dâm. Mỗi lần môi giới bán dâm thì H được hưởng lợi số tiền 1.000.000 đồng.
Vào khoảng 18 giờ ngày 25/12/2024, Nguyễn Thanh H1 và Nguyễn Văn T cùng nhau đi đến quán cà phê trên đường V, Phường C, quận B (không nhớ tên) để uống nước. Do có nhu cầu tìm gái mại dâm để quan hệ tình dục nên cả hai thống nhất lấy điện thoại của H1 để tìm và liên hệ để mua dâm. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, H1 sử dụng số điện thoại 0961.531.xxx nhắn tin qua tài khoản Zalo của Nguyễn Thị H mang tên “Chun” để tìm 02 gái bán dâm và chọn H trực tiếp bán dâm cho H1 thì H đồng ý. H báo giá cho H1 là 5.000.000 đồng/lần mua dâm thì H1 và T đồng ý. Sau khi nhận được tin nhắn của H1 thì H nhắn tin lên group Zalo tên “Lan Quế P” với nội dung “cần 02 người đi nhanh về” (tức là 01 lần quan hệ tình dục) với giá 4.000.000 đồng/lần bán dâm thì có nhiều gái bán dâm nhắn tin lại đồng ý và gửi hình ảnh của họ qua cho H để H gửi cho H1. Sau khi H1 và T nhận được hình ảnh gái bán dâm thì H1 chọn Hồ Ngọc Hoàng O còn T chọn Nguyễn Thị Mai H2. H1 gửi lại hình của O và H2 cho H. Sau đó, H nhắn tin cho H2 và O nói lấy tiền bán dâm 5.000.000 đồng rồi cho khách quan hệ tình dục. Số tiền này, H2 và O sẽ được hưởng 4.000.000 đồng/người, H hưởng lợi 1.000.000 đồng/người, rồi H nhắn số điện thoại của O và H2 cho H1 để hai bên trực tiếp liên hệ hẹn địa điểm mua bán dâm. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H1 nhắn cho H, O và H2 đến khách sạn H5 tại địa chỉ số G đường T, Phường C, quận B để H và O bán dâm cho H1 tại Phòng 206 còn H2 bán dâm cho T tại Phòng 402. Do O và H2 đến trước nên cả hai lên phòng khách sạn đã hẹn trước để bán dâm cho H1 và T. Tại phòng khách sạn, H1 và T chuyển khoản tiền mua dâm cho H2 và O như đã thỏa thuận rồi thực hiện hành vi mua bán dâm.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Tổ công tác Đ Công an quận B phối hợp cùng Công an P1, quận B kiểm tra khách sạn H5 thì phát hiện Nguyễn Thị Mai H2 đang bán dâm cho Nguyễn Văn T tại Phòng 402 và Hồ Ngọc H4 O đang bán dâm cho Nguyễn Thanh H1 tại Phòng 206 của khách sạn. Tại thời điểm kiểm tra, Nguyễn Thị H cũng đang có mặt tại khách sạn để chờ bán dâm cho H1 nên Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang để xử lý. Huyền chưa nhận được tiền môi giới bán dâm từ H2 và O.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thanh H1, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Mai H2 và Hồ Ngọc Hoàng O đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Qua điều tra mở rộng còn xác định được vào tối ngày 24/12/2024, Nguyễn Thị H còn môi giới cho Nguyễn Thị Thanh T1 và Đàm Thị H3 để bán dâm cho Nguyễn Thanh H1 với giá 5.000.000 đồng/người, T1 và H3 được hưởng số tiền 4.000.0000 đồng/người là tiền bán dâm còn H được hưởng lợi 1.000.000 đồng/người tiền công môi giới. Sau khi T1 và H3 bán dâm cho H1 thì đã chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng môi giới cho H.
Vật chứng:
- - Thu giữ của Nguyễn Thị Mai H2:
- + 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 bao cao su chưa qua sử dụng.
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo A17 màu xanh dương. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho O.
- - Tạm giữ của Hồ Ngọc Hoàng O:
- + 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 bao cao su chưa qua sử dụng.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho H2.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 màu trắng. Đây là điện thoại Nguyễn Thị H dùng để liên hệ vào việc môi giới mại dâm.
- - Thu giữ của Đàm Thị H3: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax màu vàng hồng. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho H3.
- - Thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T1: 01 điện thoại di động hiệu S flip 5. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho T1.
Trách nhiệm dân sự: Không phát sinh.
Bản cáo trạng số 210/CT-VKSBTh ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Môi giới mại dâm” thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên theo quy định tại điểm d, điểm đ, khoản 2, Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Nguyễn Thị H đã có hành vi môi giới mại dâm.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 3 năm 6 tháng tù đến 4 năm tù về tội “Môi giới mại dâm”.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, xử lý thu lợi bất chính tịch thu điện thoại di động.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 25/12/2024, Nguyễn Thanh H1 và Nguyễn Văn T có nhu cầu tìm gái mại dâm để quan hệ tình dục nên đã liên hệ Nguyễn Thị H để tìm gái mại dâm thì H đồng ý. Sau khi thỏa thuận giá mua bán dâm là 5.000.000 đồng/người, trong đó H được hưởng lợi số tiền 1.000.000 đồng/người thì H1 và T chọn Nguyễn Thị Mai H2 và Hồ Ngọc H4 Oanh để mua dâm và hẹn gặp tại khách sạn H5 2 địa chỉ 7 đường T, Phường C, quận B để mua bán dâm. Trong khi H1 và O đang quan hệ tình dục tại Phòng 206 của khách sạn còn T và H2 đang quan hệ tình dục tại Phòng 402 của khách sạn thì bị Tổ công tác Cảnh sát hình sự Công an quận B phối hợp cùng Công an P1, quận B phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, H chưa nhận được tiền môi giới bán dâm từ H2 và O.
Số tiền Nguyễn Thị H đã thu lợi từ việc môi giới mại dâm cho Nguyễn Thị Thanh T1 và Đàm Thị H3 để bán dâm cho Nguyễn Thanh H1 với giá 5.000.000 đồng/người vào tối ngày 24/12/2024, T1 và H3 được hưởng số tiền 4.000.0000 đồng/người là tiền bán dâm còn H được hưởng lợi 1.000.000 đồng/người tiền công môi giới là 2.000.000 đồng,
Do đó, hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm” thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, điểm đ, khoản 2, Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị Mai H2, Hồ Ngọc Hoàng O, Nguyễn Thị Thanh T1 và Đàm Thị H3, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt số tiền 400.000 đồng theo khoản 1 Điều 25 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Đối với hành vi mua dâm của Nguyễn Thanh H1 và Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt số tiền 1.500.000 đồng theo khoản 1 Điều 24 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
[3] Bị cáo Nguyễn Thị H có nhân thân chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, lẽ ra bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đángnhưng do tham lam tư lợi, lười nhác lao động đã cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bị cáo đã đi ngược lại đạo đức xã hội, lợi dụng thân xác của phụ nữ để hưởng lợi. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn xã hội, nhất là nạn mại dâm vì đây là nguyên nhân làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, làm lây lan các căn bệnh xã hội hiểm nghèo, gây nguy hại đến sức khỏe con người. Do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
[5] Về trách nhiệm dân sự: không có nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[6] Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và số tiền thu lợi bất chính không lớn nên xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[7] Về thu lợi bất chính: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận: sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội, bị cáo đã thu lợi bất chính được 2.000.000 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 buộc bị cáo H4 nộp lại 2.000.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - 02 bao cao su đã qua sử dụng, 02 bao cao su chưa qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 màu trắng là điện thoại Nguyễn Thị H dùng để liên hệ vào việc phạm tội môi giới mại dâm nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[9] Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị Mai H2, Hồ Ngọc Hoàng O, Nguyễn Thị Thanh T1, Đàm Thị H3, và hành vi mua dâm của Nguyễn Thanh H1 và Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ xử lý hành chính nên Hội đồng xét xử không xét.
[10] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Môi giới mại dâm”;
1. Căn cứ vào điểm d, điểm đ, khoản 2, Điều 328; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.
2. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
- - Tịch thu tiêu huỷ 02 bao cao su đã qua sử dụng, 02 bao cao su chưa qua sử dụng.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15.
- (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)
3. Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp lại 2.000.000 đồng, là tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Mười |
Bản án số 176/2025/HSST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (môi giới mại dâm)
- Số bản án: 176/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Môi giới mại dâm
