Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25-6-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Long

Ông Nguyễn Bình Dương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2025/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2025/QĐ-ST ngày 13/06/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh ngày 22/7/1996 (vắng mặt)
    Căn cước công dân: [...]
    Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Chị N hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).
    Chị N ủy quyền giao nhận các văn bản tố tụng với Tòa án cho anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
  2. Bị đơn: Anh Nghiêm Văn Đ, sinh ngày 10/5/1994 (vắng mặt)
    Căn cước công dân: [...]
    Anh Đ ủy quyền giao nhận các văn bản tố tụng với Tòa án cho ông Nghiêm Văn T, sinh năm 1964; Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (không triệu tập).
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    Ông Nghiêm Văn T, sinh năm 1964 (vắng mặt)
    Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị, anh Đ được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 29/02/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh Đ làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2023 chị, anh Đ cùng đi lao động tại Hàn Quốc. Sau khi sang Hàn Quốc vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng từ tháng 10/2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị và anh Đ không còn liên lạc với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 11/2023 đến nay chị và anh Đ không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nghiêm Văn Đ.

Về con chung: Chị, anh Đ có 01 con chung là cháu Nghiêm Tiến Đ1, sinh ngày 28/10/2016. Hiện nay cháu Đ1 đang sinh sống cùng anh Đ và bố, mẹ anh Đ. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao cháu Đ1 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông T, bà T1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Đ về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị N trình bày: Do bận công việc nên chị đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra. Chị ủy quyền cho anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giao nhận các văn bản tố tụng với Tòa án.

Tại bản tự khai đề ngày 25/4/2025 anh Nghiêm Văn Đ là bị đơn trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị N được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 29/02/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị N về nhà anh Đ làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2023 anh, chị N cùng đi lao động tại Hàn Quốc. Sau khi sang Hàn Quốc vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng từ tháng 10/2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân, không còn liên lạc với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 11/2023 đến nay anh và chị N không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với chị Hoàng Thị N.

Về con chung: Anh, chị N có 01 con chung là cháu Nghiêm Tiến Đ1, sinh ngày 28/10/2016. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh và ông T. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao cháu Đ1 cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông T, bà T1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh Đ trình bày: Do bận công việc nên anh đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra. Anh ủy quyền cho ông Nghiêm Văn T, sinh năm 1964; Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giao nhận các tài liệu với Tòa án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nghiêm Văn T trình bày:

Về hôn nhân của chị N, anh Đ ông không có ý kiến gì, ông nhất trí trình bầy của chị N, anh Đ có 01 con chung là cháu Nghiêm Tiến Đ1, sinh ngày 28/10/2016, hiện nay cháu Đ1 đang sinh sống cùng ông. Ông đồng ý nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đ1 cho anh Đ cho đến khi anh Đ về nước sinh sống. Ông xác định việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ1 là quyền cũng như nghĩa vụ của ông, bà đối với con cháu nên không yêu cầu anh Đ, chị N phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ1 từ trước cho đến nay. Bà T1 đã đi lao động nước ngoài nhiều năm, hiện không có ở Việt Nam

Ngoài ra ông T trình bày: Do bận công việc nên ông đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án mở ra.

Cháu Nghiêm Tiến Đ1 trình bày: Hiện nay cháu đang sinh sống cùng bố và ông nội tại thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống được ông chăm sóc cẩn thận chu đáo. Nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn sinh sống cùng bố và ông nội.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Hoàng Thị N, anh Nghiêm Văn Đ, ông Nghiêm Văn T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị N, anh Đ; biên bản lấy lời khai ông T, cháu Đ1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị N, bị đơn anh Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T đều có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị N, anh Đ và ông T là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N.

Về hôn nhân: chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Nghiêm Văn Đ.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nghiêm Tiến Đ1 cho anh Nghiêm Văn Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cho ông Nghiêm Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi anh Đ về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Do chị N, anh Đ, ông T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu do chị N, anh Đ gửi từ nước ngoài đến Tòa án: Do bản tự khai của chị N, anh Đ gửi đến Tòa án không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tại nước ngoài.

    Ngày 26/5/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang ra quyết định trưng cầu giám định số 05/2025/QĐ-TCGĐ trưng cầu giám định dấu vân tay của chị N, anh Đ trong đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn đề nghị gửi đến Tòa án.

    Tại Kết luận giám định số 1135/KL-KTHS ngày 13/06/2025 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

    Dấu vân tay màu đỏ in tại mục “Ngón trỏ trái” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với dấu vân tay tại ô “Trỏ trái” trên bản sao Chỉ bản số [...] mang tên Hoàng Thị N, sinh ngày 22/7/1996 (ký hiệu M2) do Phòng C về TTXH-Công an tỉnh B cung cấp là của cùng một người.

    Các dấu vân tay mầu đỏ còn lại trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A2, A3) mờ, nhòe, không thể hiện rõ đặc điểm, không đủ yếu tố tiến hành giám định.

    Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “N - Hoàng Thị N” tại các mục “Người khởi kiện”, “Người khai”, “Người đề nghị” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3) là do cùng một người ký, viết ra.

    Dấu vân tay màu đỏ in tại mục “Ngón trỏ phải” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với dấu vân tay tại ô “Trỏ phải” trên bản sao Chỉ bản số [...] mang tên Nghiêm Văn Đ, sinh ngày 10/5/1994 (ký hiệu M1) do Phòng C về TTXH-Công an tỉnh B cung cấp là của cùng một người.

    Dấu vân tay màu đỏ in tại mục “Ngón trỏ trái” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với dấu vân tay tại ô “Trỏ trái” trên bản sao Chỉ bản số [...] mang tên Nghiêm Văn Đ, sinh ngày 10/5/1994 (ký hiệu M1) do Phòng C về TTXH-Công an tỉnh B cung cấp là của cùng một người.

    Từ kết luận trên, Hội đồng xét xử chấp nhận tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu của chị N, anh Đ gửi đến Tòa án để giải quyết vụ án.

  2. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hoàng Thị N khởi kiện xin ly hôn anh Nghiêm Văn Đ và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về thẩm quyền giải quyết: Tại Công văn số 1642/QLXNC ngày 11/06/2025 của Phòng Q, Công an tỉnh B xác định chị Hoàng Thị N đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 27/04/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh; anh Nghiêm Văn Đ đã xuất cảnh ngày 30/12/2022. Do đó, chị N, anh Đ được xác định đang cư trú tại nước ngoài, ngoài ra chị N, anh Đ đều nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có nguyên đơn và bị đơn đều đang ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  4. Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thị N, bị đơn anh Nghiêm Văn Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nghiêm Văn T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N, anh Đ, ông T.
  5. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Nghiêm Văn Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29/02/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống chị N xác định vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Đ. Anh Đ cũng xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên đồng ý ly hôn chị N.

    Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử thấy: chị N, anh Đ đều xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân, đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2023 đến nay. Chị N xin ly hôn anh Đ, anh Đ đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử thấy vợ chồng anh Đ, chị N đã có thời gian dài không quan tâm, liên lạc với nhau, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, xử cho chị N được ly hôn anh Đ là phù hợp tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp quy định của pháp luật cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

  6. Về nuôi con chung: Chị N, anh Đ có 01 con chung là cháu Nghiêm Tiến Đ1, sinh ngày 28/10/2016. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng ông T (ông T là bố đẻ anh Đ). Ly hôn, chị N đề nghị giao con chung cho anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Nhưng tạm giao cho ông T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ1 cho đến khi anh Đ về nước sinh sống. Anh Đ cũng đề nghị giao con chung cho anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn. Ông T đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ1 cho anh Đ trong thời gian anh Đ đi lao động nước ngoài. Cháu Đ1 có nguyện vọng được ở cùng bố nếu bố mẹ ly hôn.

    Xét yêu cầu của chị N đề nghị giao anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử thấy: Chị N, anh Đ đều đang lao động tại nước ngoài nên đều không đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, từ khi chị N, anh Đ đi lao động ở nước ngoài cháu Đ1 được ông T nuôi dưỡng phát triển bình thường. Chị N, anh Đ đều đề nghị giao con chung cho anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau ly hôn nhưng tạm giao cho ông T chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Đ lao động tại nước ngoài. Ông T đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ1 cho anh Đ trong thời gian anh Đ lao động tại nước ngoài. Cháu Đ1 trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bố, ông nội nếu bố mẹ ly hôn. Trên thực tế cháu Đ1 vẫn đang sinh sống ổn định cùng anh Đ, ông T từ khi chị N, anh Đ đi lao động nước ngoài. Do đó, để tránh xáo trộn trong cuộc sống, học tập, đảm bảo sự phát triển tốt nhất của cháu Đ1, Hội đồng xét xử thấy căn cứ Điều 81, Điều 104 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận đề nghị của chị N, giao cháu Nghiêm Tiến Đ1, sinh ngày 28/10/2016 cho anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật sau khi ly hôn, nhưng tạm giao cháu Đ1 cho ông T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Đ về nước sinh sống là phù hợp với thực tế, phù hợp các quy định của pháp luật cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

    Sau khi ly hôn chị Hoàng Thị N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị N thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

    Trường hợp chị Hoàng Thị N có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

  7. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị N, anh Đ, ông T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  8. Về tài sản, công nợ chung: Do chị N, anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  9. Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  10. Về chi phí giám định: do các đương sự tự thanh toán và không yêu cầu giải quyết trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  11. Về quyền kháng cáo:

    Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự, chị N, anh Đ đang lao động tại nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N.

  1. Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Nghiêm Văn Đ.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nghiêm Tiến Đ1, sinh ngày 28/10/2016 cho anh Nghiêm Văn Đ là người trực tiếp, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Đ1 cho ông Nghiêm Văn T nuôi dưỡng cho đến khi anh Nghiêm Văn Đ về nước sinh sống.
  3. Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005731 ngày 12/05/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Hoàng Thị N đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo bản án:

    Chị Hoàng Thị N, anh Nghiêm Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

    Ông Nghiêm Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử TAND;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 176/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung giữa chị N và anh Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger