Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2025/DS-PT

Ngày 21-3-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Các Thẩm phán: Bà Ngô Thị Bích Diệp;
Ông Nguyễn Văn Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 790/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 52/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 192/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Vương Ngọc L, sinh năm 1968;
  2. Bà Võ Mộng T, sinh năm 1970.

Cùng địa chỉ: số F, tổ C, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; địa chỉ: số A, Huỳnh Văn N, tổ B, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số nhà A, hẽm C, đường C, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 14/7/2023), có mặt.

- Bị đơn:

  1. Ông Huỳnh Văn N1, sinh năm 1953;
  2. Bà Nguyễn Thu H1, sinh năm 1953.

Cùng địa chỉ: số H, tổ C, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

  1. Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1969.
  2. Bà Đinh Thị B, sinh năm 1970.
  3. Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1991.

Cùng địa chỉ: số H, tổ C, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thu H1, ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị B và bà Phạm Thị T2: Ông Nguyễn Duy L1, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 24/10/2020 và Văn bản ủy quyền ngày 19/6/2018 ), có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị S, sinh năm 1936; địa chỉ: khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  2. Ông Huỳnh Thanh T3, sinh năm 1984, vắng mặt.
  3. Ông Huỳnh Thanh N2, sinh năm 1989, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: số H, tổ C, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

  1. Bà Đinh Thị V, sinh năm 1988; địa chỉ: số F, đường D, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  2. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người kháng cáo: nguyên đơn Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Năm 2008, vợ chồng ông Vương Ngọc L và bà Võ Mộng T được ông Huỳnh Văn T4 (là cậu ruột của ông L) tặng cho diện tích đất 2.725m², thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 25, tại khu phố H, phường T, thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên. Ngày 02/12/2008, vợ chồng ông L, bà T được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số H02877.

Ông Huỳnh Văn N1 và vợ là bà Nguyễn Thu H1 sử dụng thửa đất số 60. Năm 2009, vợ chồng ông N1, bà H1 mượn của ông L, bà T diện tích đất khoảng 300m², thuộc một phần thửa đất số 59 để làm ao cá, chuồng bò và trồng rau. Việc mượn đất không có giấy tờ, không có người làm chứng và không thỏa thuận thời hạn trả đất. Năm 2010, ông N1, bà H1 chuyển nhượng bằng giấy tay cho bà Phạm Thị T2 (là con của ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị B) diện tích đất 120m² trong diện tích đất 300m² mượn của ông L, bà T.

Ngày 17/8/2013, vợ chồng ông N1, bà H1 và vợ chồng ông L, bà T lập văn bản thỏa thuận ranh đất hai bên là tường gạch đã được xây dựng năm 2005, tường xây đến giáp bờ ao vì ông L không đủ tiền nên chỉ xây tường rào đến bờ ao làm ranh đất giữa hai bên.

Đến năm 2015, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên vợ chồng ông L, bà T yêu cầu vợ chồng ông N1, bà H1 trả lại đất để vợ chồng ông L, bà T bán lấy tiền trả nợ thì ông N1, bà H1 không đồng ý và cho rằng diện tích đất 300m² ông N1, bà H1 được ông T4, bà S tặng cho theo hợp đồng ủy quyền ngày 01/9/2008 và không đồng ý trả lại đất cho ông L, bà T.

Theo đơn khởi kiện ông L, bà T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông N1, bà H1 phải tháo dỡ hàng rào, san lấp ao cá, tháo dỡ chuồng bò và di dời cây trồng, trả lại diện tích đất 320m², thuộc thửa đất số 59; yêu cầu bị đơn ông T1, bà B và bà T2 tháo dỡ hàng rào, chuồng bò, di dời cây trồng, trả lại diện tích đất 120m², thuộc thửa đất số 59.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Vương Ngọc L và bà Võ Mộng T xác định lại khởi kiện: yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Ngọc H2 cùng với ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị B và bà Phạm Thị T2 di dời chuồng bò, hàng rào, cây trồng trên đất, san lấp ao cá, trả lại cho vợ chồng ông L, bà T diện tích đất 266,5m², thuộc thửa đất số 59 (nay là thửa đất số 1375), tờ bản đồ số 25, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy CNQSDĐ số CS08354 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 19/9/2019.

- Bị đơn ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thu H1 trình bày:

Vợ chồng ông N1, bà H1 quản lý, sử dụng thửa đất số 60 (nay là thửa đất số 1292, 1293), tờ bản đồ số 24, theo Giấy CNQSDĐ số 00016 QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp ngày 20/01/1999 cho hộ ông Huỳnh Văn N1. Thửa đất số 60 giáp ranh với thửa đất số 59, hai thửa đất này đều có nguồn gốc do ông, bà của ông Huỳnh Văn N1 và ông Huỳnh Văn T4 chết để lại. Sau khi ông, bà chết thì ông Nghĩa là người tiếp tục quản lý, sử dụng đất. Đến năm 1999, ông N1 đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất gồm 02 thửa, trong đó ông N1 kê khai đối với thửa đất số 60 và đăng ký, kê khai cho ông T4 thửa đất số 59. Năm 1999, Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại trà không qua đo đạc thực tế nên diện tích đất khoảng 300m² ông N1 quản lý, sử dụng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn T4 và bà Lê Thị S. Ông T4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 59 nhưng thực tế ông T4 và bà S không quản lý, sử dụng mà do ông N1, bà H1 sử dụng. Năm 2008, ông T4, bà S tặng cho ông L, bà T thì ông N1, bà H1 không còn quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất số 59 mà chỉ quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp.

Trước khi ông Tấn T5 cho đất cho ông L, bà T thì ngày 25/6/2008 và ngày 01/9/2008, ông T4, bà S ủy quyền cho ông N1, bà H1 tách thửa diện tích đất 300m², thuộc thửa đất số 59. Hợp đồng ủy quyền ngày 25/6/2008 được lập tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T. Đến ngày 11/11/2008, ông T4 về tại xã T, thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên để làm hợp đồng tặng cho thửa đất số 59 cho ông L, bà T thì ông T4 đã làm lại hợp đồng ủy quyền để tách thửa diện tích 300m² cho ông N1, bà H1. Tuy nhiên, khi ông N1 và bà H1 tiến hành thủ tục xin tách diện tích đất 300m² từ thửa 59 thì Ủy ban nhân dân thị xã T yêu cầu đợi công văn hướng dẫn việc tách thửa. Sau khi vợ chồng ông L và bà T được ông T4, bà S tặng cho đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông L, bà T thế chấp giấy CNQSDĐ tại ngân hàng nên vợ chồng ông L, bà T không làm thủ tục tách thửa cho vợ chồng ông N1, bà H1 được nhưng vợ chồng ông L, bà T đều biết vợ chồng ông N1, bà H1 là người trực tiếp quản lý sử dụng đất tranh chấp nhưng không có ý kiến gì. Đến ngày 17/8/2013, ông L, bà T và ông N1, bà H1 đã thống nhất ranh giới giữa hai bên, ông L đã xây dựng hàng rào tường xây không tô để ngăn cách hai thửa đất, tường xây tiếp giáp bờ ao, đối với phần đất tranh chấp đã có ranh giới xác định với phần đất còn lại của thửa đất số 59.

Vợ chồng ông N1, bà H1 chuyển nhượng một phần đất trong tổng diện tích 300m² cho vợ chồng ông T1 nhưng ủy quyền cho bà Phạm Thị T2 đứng tên trong hợp đồng. Vợ chồng ông L, bà T đều biết và đồng ý việc chuyển nhượng đất này, được thể hiện tại văn bản ngày 21/8/2013. Do vợ chồng ông L bà T tranh chấp quyền sử dụng đất nên vợ chồng ông N1, bà H1 đã thỏa thuận với bà T2 hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hiện nay, vợ chồng ông N1 quản lý và sử dụng toàn bộ diện tích đất tranh chấp. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông L, bà T, bị đơn ông N1, bà H1 không đồng ý.

Ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thu H1 có yêu cầu phản tố, yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích đất theo đo đạc thực tế là 266,5m², thuộc một phần thửa đất số 59 (nay là thửa đất số 1375), tờ bản đồ số 25, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T đối với thửa đất số 59.

- Bị đơn ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị B và bà Phạm Thị T2 thống nhất trình bày:

Ngày 27/8/2012, vợ chồng ông T1, bà B thỏa thuận nhận chuyển nhượng diện tích đất 105m² thuộc thửa số 59 từ ông N1 và bà H1. Khi nhận chuyển nhượng đất, ông T1, bà B biết đất do vợ chồng ông L, bà T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vợ chồng ông N1, bà H1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất theo văn bản ủy quyền ngày 25/6/2008 của ông T4 và bà S nên vợ chồng ông T1 đồng ý nhận chuyển nhượng đất. Ông T1, bà B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho con gái tên Phạm Thị T2 nên hai bên thống nhất ghi tên Phạm Thị T2 trong hợp đồng. Việc ông T1, bà B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông N1, bà H1 thì ông L, bà T biết và đồng ý xác định ranh đất giữa hai bên. Thời điểm nhận chuyển nhượng đất từ ông N1, bà H1 do phần đất nhận chuyển nhượng không có lối đi nên ông T1, bà B nhờ ông Bùi Xuân T6 (là người giới thiệu ông T1, bà B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông N1, bà H1) thỏa thuận với vợ chồng ông L, bà T được đi chung lối đi trên đất của ông L, bà T được thể hiện tại văn bản ngày 21/8/2013. Do diện tích đất nhận chuyển nhượng phát sinh tranh chấp nên ngày 05/3/2018 bà Nguyễn Thu H1 và Phạm Thị T2 thống nhất hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, ông T1, bà B và bà T2 không còn quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan gì đến vụ án. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn ông N1, bà H1, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị S trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 59 là ông bà của ông Huỳnh Văn T4 chết để lại. Việc ông Huỳnh Văn T4 ủy quyền cho vợ chồng ông N1, bà H1 diện tích 300m² (đo đạc thực tế 250,6m²) và ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L, bà T đối với diện tích 2.725m² thuộc thửa 59, bà S không biết và không có ký tên lăn tay trên hai văn bản trên. Đối với diện tích đất 2.725m², ông Huỳnh Văn T4 đã tặng cho vợ chồng ông L, bà T và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông L, bà T. Bà S không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nên bà không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà trong các hợp đồng nêu trên và đề nghị Tòa án không triệu tập bà tham gia tố tụng trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Thanh N2 và ông Huỳnh Thanh T3 thống nhất trình bày: Thống nhất toàn bộ lời khai của người đại diện hợp pháp của bị đơn và đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị V trình bày:

Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 49/2015/QĐ-ST ngày 18/12/2015 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, vợ chồng ông Vương Ngọc L và bà Võ Mộng T có nghĩa vụ trả cho bà V số tiền 221.500.000 đồng. Sau khi quyết định có hiệu lực, bà V làm đơn yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để thi hành Quyết định nêu trên. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên đã ban hành Quyết định về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 26/QĐ-CCTHADS ngày 20/7/2016 đối với thửa đất số 59, diện tích 2.725m², tờ bản đồ số 25, giấy CQNSDĐ số H02877 cấp cho ông Vương Ngọc L và bà Võ Mộng T nhưng do tài sản này đang tranh chấp nên hiện nay Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 49/2015/QĐ-ST ngày 18/12/2015 vẫn chưa được thi hành. Ông L và bà T vẫn chưa thanh toán cho bà V số tiền nêu theo quyết định nêu trên. Đối với vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T với ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thu H1, ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị B, bà Phạm Thị T2, bà V đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để Chi cục Thi hành án tiếp tục thi hành quyết định nêu trên cho bà V, bà V không có yêu cầu gì trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trình bày:

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đang thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 49/2015/QĐ-ST ngày 18/12/2015 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Đinh Thị V với bị đơn ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T. Nội dung Quyết định thi hành án số 636/QĐ-CCTHA ngày 07/012026 ông L và bà T liên đới trả cho bà V 221.500.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Ngày 20/7/2016, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên đã ban hành Quyết định về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 26/QĐ-CCTHADS ngày 20/7/2016 đối diện tích đất 2.725m² để đảm bảo thi hành án. Sau đó, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên đã thụ lý đơn của ông Nguyễn Ngọc D, ông Nguyễn Văn D1, ông Nguyễn Quang H3, ông Doãn Minh P về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đã giải quyết buộc ông L, bà T giao diện tích đất cho ông D, ông D1, ông H3, ông P. Hiện nay, diện tích đất đã ra quyết định kê biên còn lại là 247m², theo bản vẽ ngày 04/02/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố) Tân Uyên.

- Người làm chứng ông Thái Văn M trình bày:

Ông M ở gần diện tích tích đất tranh chấp nên ông biết nguồn gốc đất là của ông T4 và bà S. Năm 2008, ông T4 và bà S có ủy quyền cho vợ chồng ông N1 diện tích đất 300m² và trong năm 2008 ông T4, bà S tặng cho toàn bộ diện tích đất 2.725m² cho vợ chồng ông L, bà T. Vợ chồng ông N1, bà H1 là người quản lý sử dụng diện tích đất tranh chấp từ trước cho đến nay.

- Người làm chứng ông Bùi Xuân T6 trình bày:

Ông T6 là người giới thiệu bà Phạm Thị T2 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông N1, bà H1. Diện tích đất ông N1 chuyển nhượng là do ông N1 trực tiếp quản lý sử dụng từ năm 2007 cho đến khi chuyển nhượng cho bà T2. Sau khi bà T2 nhận chuyển nhượng đất, do đất không có lối đi nên ông T6 đã thay bà T2 thỏa thuận với ông L được đi chung lối đi trên đất của ông L và bà T2 thanh toán tiền làm đường cho ông L 10.000.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2019/DS-ST ngày 17/6/2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, tuyên xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T đối với bị đơn ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thu H1, ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị B và bà Phạm Thị T2 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Ngoài ra, còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí. Nguyên đơn ông L, bà T kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 202/DS-PT ngày 14/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, tuyên xử: hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2019/DS-ST ngày 17/6/2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Lý do hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa làm rõ có việc trao đổi đất, chưa xem xét đánh giá toàn bộ các chứng cứ trong vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2022/DS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, tuyên xử: đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 112,1m², thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 24, tại phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T đối với bị đơn ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thu H1 về việc yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thu H1 di dời chuồng bò, hàng rào, cây trồng trên đất, san lấp ao cả, trả lại cho vợ chồng ông L, bà T diện tích đất 250,6m², thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 24, tại phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Ngoài ra, còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí. Nguyên đơn ông L, bà T kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 202/2023/DS-PT ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, tuyên xử: hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2022/DS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Lý do hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ nên bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đủ căn cứ.

- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T về việc yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Ngọc H2 di dời chuồng bò, hàng rào, cây trồng trên đất, san lấp ao cá, trả lại cho vợ chồng ông L, bà T diện tích đất 266,5m² thuộc thửa đất số 59 (nay là thửa đất số 1375), tờ bản đồ số 25, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T về việc yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị B, bà Phạm Thị T2 tháo dỡ hàng rào, chuồng bò, di dời cây trồng, trả lại diện tích đất 120m², thuộc thửa đất số 59, (nay là thửa đất số 1375), tờ bản đồ số 25, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thu H1 đối với nguyên đơn ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thu H1 được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 266,5m², thuộc thửa đất số 1375, tờ bản đồ số 25, tại khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Phần đất có tứ cận như sau:

Hướng Đông, Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 1375;

Hướng Tây giáp thửa đất số 1293;

Hướng Bắc giáp thửa đất số 642, 27.

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh một phần giấy CNQSDĐ số CR 761930, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CS08354 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 19/9/2019 mang tên ông Vương Ngọc L, bà Võ Mộng T để cấp lại theo quyết định của bản án.

Ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thu H1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký, đề nghị cấp giấy CNQSDĐ theo nội dung quyết định của bản án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm trả và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/9/2024 ông Vương Ngọc L và bà Võ Mộng T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo và khởi kiện, người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ yêu phản tố. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị S, ông Huỳnh Thanh T3, ông Huỳnh Thanh N2, bà Đinh Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Theo hợp đồng ủy quyền ngày 01/9/2008 có nội dung ông T4, bà S ủy quyền cho ông N1, bà H1 đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T để nộp hồ sơ tách thửa, chuyển mục đích sử dụng đất đối với GCNQSDĐ số H01635 và tách cho ông N1 diện tích đất 300m², thời hạn ủy quyền là 06 tháng. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn cho rằng chữ ký trong hợp đồng ủy quyền này không phải của ông Huỳnh Văn T4, bà Lê Thị S và yêu cầu giám định. Xét thấy, hợp đồng ủy quyền ngày 01/9/2008 đã hết thời hạn ủy quyền theo quy định tại Điều 582 của Bộ luật Dân sự năm 2005, các bên cũng không thực hiện công việc theo ủy quyền. Ngoài ra ngày 11/11/2008, ông T4, bà S đã lập hợp đồng tặng cho ông L, bà T quyền sử dụng đất tại thửa đất số 59 nên việc ủy quyền đối với quyền sử dụng trên đã kết thúc từ thời điểm ông L, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, ngoài chứng cứ nêu trên, việc xem xét, đánh giá còn nhiều chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H đề nghị giám định đối với chữ ký của ông T4, bà S tại các giấy ủy quyền trên là không cần thiết nên Hội đồng xét xử không chấp nhận việc giám định của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn.

[3] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc phần diện tích đất tranh chấp là 266,5m² thuộc thửa đất số 59 (nay là thửa đất số 1375), tờ bản đồ số 25, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tài sản trên đất gồm 01 nhà tạm (chuồng nuôi bò), kết cấu: mái tôn, cột gỗ, nền xi măng, 01 ao cá bờ đắp đất do ông N1, bà H1 đào từ năm 2005, 30 cây chuối. Các tài sản, cây trồng trên đất do bị đơn ông N1, bà H1 trồng, xây dựng và hiện đang quản lý, sử dụng.

[4] Nguyên đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp 266,5m² thuộc một phần diện tích 2.725m², thuộc thửa đất số 59 (nay là thửa đất số 1375), tờ bản đồ số 25, tại khu phố H, phường T, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp GCNQSDĐ số H02877 ngày 02/12/2008 cho ông L, bà T. Năm 2009, vợ chồng ông N1, bà H1 mượn của ông L, bà T diện tích đất khoảng 300m², thuộc một phần thửa đất số 59 để làm ao cá, chuồng bò và trồng rau. Việc mượn đất không có giấy tờ, không có người làm chứng và không thỏa thuận thời hạn trả đất. Đến năm 2015, ông L, bà T yêu cầu vợ chồng ông N1, bà H1 trả lại đất để vợ chồng ông L, bà T bán lấy tiền trả nợ thì ông N1, bà H1 không đồng ý.

[5] Bị đơn ông N1, bà H1 cho rằng hai thửa đất số 59, 60 đều có nguồn gốc do ông, bà của ông Huỳnh Văn N1 và ông Huỳnh Văn T4 chết để lại. Ông N1, bà H1 đã quản lý, sử dụng thửa đất số 59, 60 (nay là thửa đất số 1292, 1293) sau khi ông, bà chết. Đến năm 1999, ông N1 đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất gồm 02 thửa, trong đó ông N1 kê khai đối với thửa đất số 60 và đăng ký, kê khai cho ông T4 thửa đất số 59. Năm 1999, Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại trà không qua đo đạc thực tế nên diện tích đất khoảng 300m² ông N1 quản lý, sử dụng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn T4 và bà Lê Thị S. Năm 2008, ông T4, bà S tặng cho ông L, bà T thì ông N1, bà H1 không còn quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất số 59 mà chỉ quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp. Đến ngày 17/8/2013, ông L, bà T và ông N1, bà H1 đã thống nhất ranh giới giữa hai bên, ông L đã xây dựng hàng rào tường xây không tô để ngăn cách hai thửa đất, tường xây tiếp giáp bờ ao; đối với phần đất tranh chấp đã có ranh giới xác định với phần đất còn lại của thửa đất số 59. Ông N1, bà H1 phản tố, yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích đất theo đo đạc thực tế là 266,5m², thuộc một phần thửa đất số 59, tờ bản đồ số 25, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bị đơn ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị B và bà Phạm Thị T2 xác định ngày 05/3/2018 bà H1 và T2 thống nhất hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, ông T1, bà B và bà T2 xác định không còn quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan gì đến vụ án.

[6] Xét, quá trình tố tụng nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận thửa đất số 59, 60 là do cha mẹ của ông T4, ông N1 để lại. Ông L, bà T quản lý, sử dụng thửa đất số 59 do được nhận tặng cho từ ông Huỳnh Văn T4 và bà Lê Thị S. Theo chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện, tại đơn đăng ký quyền sử dụng đất ngày 08/12/1997, ông N1 đăng ký thửa đất số 60, 59, 548, 549, 274, 275 nhưng đối với dòng đăng ký đối với thửa đất số 59 đã được gạch bỏ. Tại danh sách các chủ sử dụng đất đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận cũng thể hiện ông N1 đăng ký tổng số thửa là 5 và tổng diện tích là 5.589m² (không có thửa đất số 59 diện tích 2.725m²). Sau đó ông N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/01/1999 đối với 05 thửa đất với tổng diện tích 5.589m² (không có thửa đất số 59).

[7] Ngày 22/12/1997, ông Huỳnh Văn T4 đăng ký kê khai đối với thửa đất số 59 với nguồn gốc “cha mẹ để lại 1994”. Ngày 26/01/1999, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00635QSDĐ/TU mang tên hộ ông Huỳnh Văn T4 đối với thửa đất số 59, với diện tích 2.725m². Ngày 15/6/2007, ông T4 cùng vợ là bà Lê Thị S được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01635 đối với thửa đất số 59 với diện tích 2.725m² (300m² đất ở). Ngày 11/11/2008, ông T4, bà S tặng cho ông L, bà T quyền sử dụng đất tại thửa đất số 59. Ngày 02/12/2008, ông L, bà T được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận H02877. Năm 2015, phần đất tại thửa đất số 59 được chỉnh lý biến động còn lại 2.473,5m² (chỉnh lý giảm theo kết quả đo đạc thực tế). Năm 2019, ông L, bà T thực hiện thi hành án theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 47/2016/QÐST-DS ngày 02/11/2016, thửa đất số 59 tách thành thửa đất số 1376 (ông Nguyễn Ngọc D), phần đất còn lại thuộc thửa đất số 1375 là 1.403,4m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 761930 ngày 19/9/2019.

[8] Như vậy, thửa 59 ông T4 và ông N1 đều đăng ký, kê khai. Ông T4 đăng ký kê khai sau ông N1, ông N1 có đăng ký nhưng đã gạch bỏ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện của ông N1, bà H1 cũng xác định ông N1 quản lý, sử dụng cả hai thửa đất số 59, 60 và đã đăng ký đối với thửa đất số 60, đăng ký thay cho ông T4 đối với thửa đất số 59. Lời khai của ông N1, bà H1 phù hợp với lời khai ông T4 tại Đơn xin xác nhận ngày 23/4/2007, ông T4 thừa nhận: “...Năm 1975 giải phóng tôi công tác tại thị xã T có vợ và tạm trú tại xã T (quê vợ). Phần nhà đất của tôi, tôi nhờ đứa cháu con người em ruột ở đó trông coi đến năm 1999 có đợt làm giấy tôi nhờ cô em dâu, con ông Chú T7 làm dùm, sơ sót không ghi phần đất thổ cư...”. Do đó, có căn cứ xác định ông T4 không trực tiếp quản lý, sử dụng đất, thời điểm ông T4 đăng ký, ông N1 và bà H1 là người quản lý, sử dụng đất.

[9] Về việc trao đổi đất: theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện ngày 06/7/2004 ông Huỳnh Văn T4 viết đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất, nội dung đơn xin chuyển 300m² đất thổ cư để đổi cho ông Huỳnh Văn N1 và ông N1 đổi lại diện tích đất ngang hông nhà của ông N1 cho ông T4. Tại biên bản hòa giải ngày 13/10/2016, ông N1 có lời khai về việc trao đổi đất để làm đường. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận các bên có nói chuyện về việc trao đổi đất nhưng không thống nhất về vị trí trao đổi đất và đều thừa nhận là chưa có việc trao đổi đất trên thực tế. Căn cứ vào ý kiến trình bày của các đương sự, ý kiến của ông Huỳnh Văn T4 thể hiện tại văn bản đề ngày 27/6/2007 và hồ sơ cập nhật biến động đối với thửa đất số 60 và thửa đất số 59 thì có căn cứ xác định các bên không thực hiện việc trao đổi đất trên thực tế.

[10] Đối với diện tích đất tranh chấp, nguyên đơn thừa nhận từ khi nhận tặng cho đất năm 2008 đến nay nguyên đơn không sử dụng phần đất tranh chấp, khi ông Tấn T5 cho đất thì đã biết việc ông N1, bà H1 đang quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp nhưng cũng không có ý kiến. Tại biên bản xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân phường T xác định bị đơn ông N1, bà H1 quản lý, sử dụng đất từ năm 2008 đến nay. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định trên phần đất tranh chấp có tài sản là chuồng bò, ao cá do ông N1, bà H1 xây dựng, đào từ năm 2005. Tại cạnh hướng Nam của phần đất tranh chấp có móng gạch do nguyên đơn xây dựng từ năm 2005, cạnh hướng Đông của phần đất tranh chấp thì nguyên đơn cũng đã xây dựng tường rào bằng gạch làm ranh. Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận ngày 17/8/2013, giữa ông N1 và ông L đã lập Giấy thỏa thuận ranh đất xác định ranh đất ở sau nhà (nhà ông N1) đến hàng gạch đã xây vào năm 2005. Như vậy, có cơ sở xác định tường rào, móng gạch do nguyên đơn xây dựng là ranh giới giữa phần đất do ông N1, bà H1 và ông L, bà T theo thoả thuận giữa hai bên theo quy định tại Điều 265 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Ngoài ra, trong quá trình ông N1, bà H1 quản lý, sử dụng đất tranh chấp, ông N1, bà H1 thoả thuận chuyển nhượng một phần diện tích đất cho ông T1, bà B và bà T2 thì ông L, bà T đều biết và đồng ý với việc chuyển nhượng này thông qua việc ông L, bà T nhận số tiền 10.000.000 đồng từ ông Bùi Xuân T6 để bà T2 sử dụng lối đi bê tông tự mở vào phần đất tranh chấp. Như vậy, việc nguyên đơn cho rằng cho bị đơn mượn đất để nuôi bò, nuôi cá và trồng cây nhưng bị đơn không thừa nhận và nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ.

[11] Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận.

[12] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.

[13] Về án phí phúc thẩm: người kháng cáo phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 148; khoản 1 Điều 308; Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Vương Ngọc L và bà Võ Mộng T.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Vương Ngọc L và bà Võ Mộng T mỗi người phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0004587 ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - TAND thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Mộng Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 176/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger