TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 176/2025/DS-PT Ngày: 14/4/2025 “V/v tranh chấp QSDĐ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư, bà Võ Bích Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14/4/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2025/TLPT-DS ngày 22/01/2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2024/DS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 88/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trịnh Văn K, sinh năm 1959.
Đại diện uỷ quyền: Chị Trịnh Thị Thanh T, sinh năm 1979, (có mặt)
Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Văn bản uỷ quyền ngày 16/8/2023.
Bị đơn:
- Ông Trịnh Văn X, sinh năm 1948 (đã chết năm 2021)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông X:
- Bà Phạm Thị X1, sinh năm 1954
- Anh Trịnh Minh N, sinh năm 1981
- Anh Trịnh Quang T1, sinh năm 1983
- Anh Trịnh Hoàng Â, sinh năm 1979
- Chị Trịnh Thị Yến O, sinh năm 1985
Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Chị Trịnh Thị Yến P1, sinh năm 1978. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Anh Trịnh Thanh L, sinh năm 1975. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông X cùng ủy quyền cho anh Trịnh Thanh L tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 13/6/2023. (vắng mặt)
- Ông Trịnh Văn T2, sinh năm 1972. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Ông T2 ủy quyền cho anh Lê Ngọc T3, sinh năm 1977. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2023. (có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trịnh Hữu C, sinh năm 1978
- Chị Trịnh Kim X2, sinh năm 1986
- Anh Trịnh Văn P, sinh năm 1990
- Chị Trịnh Thị Thanh T, sinh năm 1979
Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Chị Trịnh Thị T4, sinh năm 1981
Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Chị Trịnh Thị Kim K1, sinh năm 1984
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Anh C, chị X2, anh P, chị T4 và chị K1 có đại diện uỷ quyền: Chị Trịnh Thị Thanh T, sinh năm 1979. Văn bản uỷ quyền ngày 06/8/2024.
- Bà Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1972.
- Anh Trịnh Khắc H, sinh năm 1995.
Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Bà G và anh H ủy quyền cho anh Lê Ngọc T3, sinh năm 1977. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Văn bản ủy quyền ngày 14/10/2024. (có mặt).
Người làm chứng: Chị Lê Thị Thanh N1, sinh năm 1980. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, TP .. (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trịnh Văn T2.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
Nguyên đơn ông Trịnh Văn K và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Hữu C, Trịnh Kim X2, Trịnh Văn P, Trịnh Thị Thanh T, Trịnh Thị T4, Trịnh Thị Kim K1 trình bày:
Nguồn gốc thửa 1364 do gia đình ông K nhận chuyển nhượng của ông Tư T5, sau đó kê khai đứng tên trong Sổ mục kê đất đai diện tích 460m², loại thổ cư, thửa 1364, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, gia đình đã sử dụng hơn 100 năm. Đến nay, ông K vẫn chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do có phát sinh tranh chấp về ranh giới với 02 hộ sử dụng đất liền kề là ông Trịnh Văn X và ông Trịnh Văn T2 (con ông Trịnh Văn X3).
Qua đo đạc thực tế phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn ông X có người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là Phạm Thị X1, Trịnh Minh N, Trịnh Quang T1, Trịnh Hoàng Â, Trịnh Thị Yến O, Trịnh Thị Yến P1 và Trịnh Thanh L vị trí A có diện tích 21.9m² (2.2m² đường giao thông), vị trí D có diện tích 22m² (có 2.3m² đường giao thông). Phần đất tranh chấp với bị đơn ông T2 vị trí B có diện tích 58m² (25.4m² đường giao thông), vị trí C diện tích 40.7m².
Đối với kết quả thẩm định, định giá lập ngày 15/8/2023 và bản trích đo địa chính số 819 ngày 01/10/2024 của văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cung cấp thống nhất làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại vị trí A theo bản trích đo nguyên đơn không tranh chấp đồng ý giao cho bị đơn ông X có người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là Phạm Thị X1, Trịnh Minh N, Trịnh Quang T1, Trịnh Hoàng Â, Trịnh Thị Yến O, Trịnh Thị Yến P1 và Trịnh Thanh L sử dụng, nguyên đơn đề nghị công nhận cho nguyên đơn sử dụng phần đất có diện tích 19.7m² tại ví trí D sau khi trừ đi phần đất 2.3m² đường giao thông không yêu cầu, các tài sản trên đất tranh chấp tại vị trí D nguyên đơn đề nghị bị đơn tháo dỡ, di dời để giao trả cho nguyên đơn.
Phần đất tranh chấp với bị đơn ông T2 vị trí B có diện tích 58m² (25.4m² đường giao thông), vị trí C diện tích 40.7m². Nguyên đơn đề nghị bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm tháo dỡ, di dời tài sản trả cho nguyên đơn vị trí B là 32.6m², đối với đất đường giao thông nguyên đơn không yêu cầu giải quyết và diện tích đất tại vị trí C là 40.7m².
Tại phần đất tranh chấp vị trí B có tài sản của ông T2 là hàng rào xây tường, lúc ông T2 làm hàng rào nghĩ rào dùm cho gia đình nguyên đơn và lúc đó gia đình cũng chưa lục được các giấy tờ nên cũng không có ngăn cản, hiện vị trí B nguyên đơn đang sử dụng. Còn vị trí C hiện nguyên đơn đang sử dụng có 01 cái giếng bơm nước do mẹ ông T2 làm cách đây khoảng 27 năm, lúc đó một bên hùn đất một bên hùn giếng khoang để cùng nhau sử dụng và 01 phần nhà tạm của ông T2 lúc ông T2 làm gia đình nguyên đơn có ngăn cản nhưng ông T2 nói nếu đất của nguyên đơn ông T2 sẽ tháo dỡ. Về cây trồng cũng như tài sản của bị đơn trên đất tranh chấp nguyên đơn đề nghị tháo dỡ và không hỗ trợ chi phí. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông T2 nguyên đơn không đồng ý. Khi ông X3 còn sống, hai bên không cắm trụ đá làm ranh mốc.
Kể từ khi thẩm định đến nay không phát sinh thêm tài sản nào, vẫn giữ nguyên hiện trạng.
Theo đơn phản tố và quá trình giải quyết bị đơn ông Trịnh Văn T2 có đại diện uỷ quyền anh Lê Ngọc T3 trình bày và yêu cầu như sau:
Ông T2 đang sử dụng đất tại thửa 1365, diện tích 1.253m², loại đất ODT+CLN do ông Trịnh Văn X3 (cha ruột) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000124, được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 25/12/1995, được chỉnh lý chủ sử dụng cho ông Trịnh Văn T2 vào ngày 03/12/2019 do nhận thừa kế.
Quá trình sử dụng, ông T2 không có lấn chiếm đất của ông K mà ngược lại ông K lấn chiếm qua thửa đất 1365 của ông T2. Trước đây, khi ông X3 còn sống, hai bên có thống nhất cắm trụ đá làm ranh mốc nhưng sau đó, nguyên đơn lại khởi kiện cho rằng gia đình ông T2 lấn chiếm đất. Vị trí B trước đây, gia đình ông T2 sử dụng có làm tường rào vào khoảng năm 2000 – 2001 cho đến khoảng năm 2013 phía gia đình ông K xin để chứa củi nhờ và đã sử dụng đến nay. Còn phần đất ở vị trí C, gia đình ông T2 sử dụng đến nay.
Nay ông T2 không đồng ý xác định ranh mốc giữa 02 thửa đất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn ông T2 yêu cầu công nhận phần đất tại vị trí B diện tích sau khi đã trừ đi phần đất có đường giao thông là 25.4m² như vậy phần đất yêu cầu công nhận là 32.6m² vị trí C diện tích 40.7m² .
Đối với kết quả thẩm định, định giá lập ngày 15/8/2023 và bản trích đo địa chính số 819 ngày 01/10/2024 của văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cung cấp thống nhất làm căn cứ giải quyết vụ án.
Vị trí C có cái giếng khoang cha mẹ ông T2 làm khoảng năm 1990, còn mái che do ông T2 làm.
Kể từ khi thẩm định đến nay không phát sinh thêm tài sản nào, vẫn giữ nguyên hiện trạng.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn bị đơn không đồng ý.
Bị đơn Trịnh Văn X (đã chết) có người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng anh Trịnh Thanh L cũng là đại diện theo uỷ quyền cho Phạm Thị X1, Trịnh Minh N, Trịnh Quang T1, Trịnh Hoàng Á, Trịnh Thị Yến O, Trịnh Thị Yến P1 thống nhất trình bày:
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông X hiện nay sức khoẻ vẫn bình thường.
Ông Trịnh Văn X đứng tên quyền sử dụng đất, diện tích đất 616m², loại ODT+CLN, thửa 1363, được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số "H'01951 ngày 04/01/2007. Nguồn gốc đất do ông bà để lại, gia đình ông X đã sử dụng ổn định từ trước đến nay, có ranh mốc rõ ràng do gia đình làm bằng hàng rào.
Đối với kết quả thẩm định, định giá và bản trích đo địa chính số 819 ngày 01/10/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C thống nhất làm căn cứ giải quyết vụ án.
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phía bị đơn đề nghị công nhận cho bị đơn phần đất tại vị trí A là 19.7m², sau khi trừ đi phần đất đường giao thông 2.2m² không yêu cầu, còn phần đất tại vị trí D bị đơn không tranh chấp đồng ý giao cho nguyên đơn sử dụng. Vị trí tranh chấp (A) hiện gia đình bị đơn đang sử dụng, những tài sản của bị đơn trên đất tranh chấp tại vị trí D bị đơn đồng ý tháo dỡ, di dời. Kể từ khi thẩm định đến nay không phát sinh thêm tài sản nào.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Hương G: là vợ ông T2, thống nhất lời trình bày của ông T3.
Anh Trịnh Khắc H có đại diện uỷ quyền anh Lê Ngọc T3 trình bày tại bản tự khai ngày 14/10/2024: Anh Trịnh Khắc H là con của ông Trịnh Văn T2. Anh H được sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất đang tranh chấp. Từ khi anh H hiểu biết cho đến nay thì ranh đất giữa hai bên đã có trụ đá sử dụng ổn định không thay đổi và cũng không có mâu thuẫn, thời điểm cha anh H xây dựng tường rào kiên cố giữa hai bên cũng không phát sinh tranh chấp gì. Nay đối với việc tranh chấp ranh giới đất giữa gia đình ông K với gia đình anh H thì anh H thống nhất theo yêu cầu của cha anh là ông Trịnh Văn T2.
Người làm chứng chị Lê Thị Thanh N1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 15/8/2023: giữa chị với ông K, ông T2 không có mối quan hệ thân tộc. Năm 2001 ông T2 có kêu chồng là Lê Ngọc T6 xây hàng rào phía trước nhà cặp đường giao thông từ giáp ranh nhà chị qua đến trước cửa nhà ông K còn chị là người phụ hồ cho chồng. Lý do gì ông T2 xây hàng rào kéo qua nhà ông K thì chị không biết nhưng lúc xây hàng rào thì ông K, bà B có ở nhà nhưng không ai ra ngăn cản. Về phần đất tranh chấp như thế nào thì không rõ. Đề nghị vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng tại các cấp Toà án.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 97/2024/DSST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Văn K.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Trịnh Văn X là Phạm Thị X1, Trịnh Minh N, Trịnh Quang T1, Trịnh Hoàng Â, Trịnh Thị Yến O, Trịnh Thị Yến P1 và Trịnh Thanh L.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trịnh Văn T2.
Nguyên đơn ông Trịnh Văn K được quyền sử dụng diện tích vị trí D 19.7m², vị trí B diện tích 32.6m², vị trí C diện tích 40.7m² theo bản trích đo địa chính thuộc thửa 1364, tờ bản đồ số 2, do ông Trịnh Văn K đứng tên sổ mục kê ruộng đất. Đất toạ lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Trịnh Văn X là Phạm Thị X1, Trịnh Minh N, Trịnh Quang T1, Trịnh Hoàng Â, Trịnh Thị Yến O, Trịnh Thị Yến P1 và Trịnh Thanh L được quyền sử dụng vị trí A diện tích 19.7m² theo bản trích đo địa chính thuộc một phần thửa 1363, tờ bản đồ số 02, giấy chứng nhận QSD đất số H01951 do ủy ban nhân dân huyện T (trước đây) cấp ngày 04/01/2007 cho ông Trịnh Văn X đứng tên. Đất toạ lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ và có trách nhiệm tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản để trả lại phần đất cho nguyên đơn Trịnh Văn K có diện tích tại vị trí D: 19.7m² theo bản trích đo địa chính. Đất tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Buộc bị đơn Trịnh Văn T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Hương G, Trịnh Khắc H cùng có trách nhiệm tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, cây trồng để trả lại phần đất cho nguyên đơn Trịnh Văn K có diện tích tại vị trí B: 32.6m² vị trí C: 40.7m² theo bản trích đo địa chính. Đất tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn ông Trịnh Văn K được quyền sử dụng 01 giếng bơm nước và có trách nhiệm trả giá trị cho bị đơn ông Trịnh Văn T2 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án chậm trả số tiền trên, còn phải chịu lãi theo mức lãi suất được qui định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tài sản, biên bản định giá tài sản do Tòa án lập ngày 15/8/2023 và bản trích đo địa chính số 819/VPĐKĐĐ ngày 24/9/2024 có xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C ngày 01/10/2024 để xác định vị trí, kích thước phần đất, tài sản tranh chấp, diện tích phần đất đương sự được sử dụng.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử bị đơn ông Trịnh Văn T2 đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Lê Ngọc T3 đại diện ủy quyền của ông Trịnh Văn T2 và ông Trịnh Khắc H đề nghị Hội đồng xem xét xét và giải quyết theo quy định pháp luật.
Phía đại diện ủy quyền của các nguyên đơn bà Trịnh Thị Thanh T trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần của bị đơn ông Trịnh Văn X hai bên đã thống nhất thỏa thuận như bản án sơ thẩm đã tuyên và không có ai kháng cáo. Đối với phần kháng cáo của ông T2: Ông T2 kháng cáo không có căn cứ. Phần đất của gia đình bà đã sử dụng từ trên 100 năm. Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông T2 giao trả là có căn cứ. Vì vậy, yêu cầu giữ y bản án sơ thẩm đối với phần của ông T2.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Kháng cáo của ông T2 là không có căn cứ. Nguyên đơn đã chứng minh nguồn gốc đất là của nguyên đơn. Ông T2 sử dụng đất nằm trong thửa đất của nguyên đơn. Phần đất của ông T2 sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đã dôi dư. Bản án sơ thẩm tuyên là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm và bác kháng cáo của ông T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Văn T2 trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là hợp lệ và đúng quy định. Đối với những người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Nguyên đơn cho rằng nguồn gốc thửa 1364 do gia đình nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông Tư T5, sau đó kê khai đứng tên trong Sổ mục kê đất đai diện tích 460m², loại thổ cư, thửa 1364, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại địa chỉ trên đã sử dụng hơn 100 năm. Nguyên đơn chưa làm giấy do có tranh chấp. Đo đạc thực tế với bị đơn thì vị trí tranh chấp như sau: Vị trí A có diện tích 21.9m² (2.2m² đường giao thông), vị trí D có diện tích 22m² (có 2.3m² đường giao thông). Phần đất tranh chấp với bị đơn ông T2 vị trí B có diện tích 58m² (25.4m² đường giao thông), vị trí C diện tích 40.7m² .
Tại vị trí A bản trích đo nguyên đơn không tranh chấp đồng ý giao cho bị đơn, nguyên đơn đề nghị công nhận cho nguyên đơn sử dụng phần đất có diện tích 19.7m² tại ví trí D sau khi trừ đi phần đất 2.3m² đường giao thông không yêu cầu, các tài sản trên đất tranh chấp tại vị trí D nguyên đơn đề nghị bị đơn tháo dỡ, di dời để giao trả cho nguyên đơn.
Phần đất tranh chấp với ông T2 vị trí B có diện tích 58m² (25.4m² đường giao thông), vị trí C diện tích 40.7m². Nguyên đơn đề nghị bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm tháo dỡ, di dời tài sản trả cho nguyên đơn vị trí B là 32.6m², đối với đất đường giao thông nguyên đơn không yêu cầu giải quyết và diện tích đất tại vị trí C là 40.7m².
Phía bị đơn ông T2 trình bày: Ông T2 đang sử dụng đất tại thửa 1365, diện tích 1.253m², loại đất ODT+CLN do ông Trịnh Văn X3 (cha ruột) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000124, được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 25/12/1995, được chỉnh lý chủ sử dụng cho ông Trịnh Văn T2 vào ngày 03/12/2019 do nhận thừa kế. Ông T2 cho rằng ông không có lấn chiếm đất của ông K mà ngược lại ông K lấn chiếm qua thửa đất 1365 của ông T2. Hai bên đã cấm trụ ranh và làm hàng rào Nay, ông T2 không đồng ý theo yêu cầu nguyên đơn. Vị trí C có cái giếng khoan cha mẹ ông T2 làm khoảng năm 1990, còn mái che do ông T2 làm. Anh Trịnh Khắc H là con của ông T2 thống nhất theo trình bày của ông T2.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông X cho rằng: Ông X đứng tên quyền sử dụng đất, diện tích đất 616m², loại ODT+CLN, thửa 1363, được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số "H'01951 ngày 04/01/2007. Nguồn gốc đất do ông bà để lại, gia đình ông X đã sử dụng ổn định từ trước đến nay, có ranh mốc rõ ràng do gia đình làm bằng hàng rào. Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phía bị đơn đề nghị công nhận cho bị đơn phần đất tại vị trí A là 19.7m², sau khi trừ đi phần đất đường giao thông 2.2m² không yêu cầu, còn phần đất tại vị trí D bị đơn không tranh chấp đồng ý giao cho nguyên đơn sử dụng. Vị trí tranh chấp (A) hiện gia đình bị đơn đang sử dụng, những tài sản của bị đơn trên đất tranh chấp tại vị trí D bị đơn đồng ý tháo dỡ, di dời.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần đất tranh chấp với bị đơn ông Trịnh Văn X có người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà Phạm Thị X1, ông Trịnh Minh N, ông Trịnh Quang T1, ông Trịnh Hoàng Â, bà Trịnh Thị Yến O, bà Trịnh Thị Yến P1 và ông Trịnh Thanh L và yêu cầu phản tố của phía các bị đơn này nhận thấy: Thửa 1364 nguyên đơn đang sử dụng theo sổ mục kê ruộng đất năm 1991 do ông Trịnh Văn K đứng tên có diện tích 460m² (T), qua đo đạc thực tế có diện tích 350,9m² loại đất ODT (chưa tính phần đất tranh chấp), chênh lệch giảm 109.1m² so với diện tích được thể hiện trên sổ mục kê ruộng đất.
Phần đất tranh chấp vị trí A có diện tích: 21.9m² quá trình giải quyết cũng như tại phiên toà nguyên đơn không tranh chấp phần đất này đồng ý để người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh Văn X sử dụng, còn phần đất tại vị trí D nguyên đơn đề nghị tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản để giao trả cho nguyên đơn diện tích 19.7m².
Thửa 1363 của bị đơn đang sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01951 có diện tích 616m² (316m² CLN + 300m² ONT), qua đo đạc thực tế có diện tích 681.9m² ODT + CLN (chưa tính phần đất tranh chấp), chênh lệch tăng 65.9m² so với diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh Văn X quá trình giải quyết cũng như tại phiên toà sơ thẩm yêu cầu công nhận được quyền sử dụng phần đất vị trí A là 19.7m² và đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tại vị trí D đồng ý tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, cây trồng trên đất giao trả cho nguyên đơn được quyền sử dụng. Đây là sự tự nguyện của các đương sự nên được công nhận. Các đương sự không kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[4] Xét phần yêu cầu của nguyên đơn đối với ông T2 và phản tố của ông T2 nhận thấy: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, bởi lẽ phần đất tại thửa 1364 của nguyên đơn có nằm trong sổ mục kê đứng tên nguyên đơn. Phần đất của ông T2 tại thửa 1365 của bị đơn đang sử dụng theo giấy chứng nhận QSD đất 000124 có diện tích 1253m² (953m² LNK + 300m² T), qua đo đạc thực tế có diện tích 1262.3m² ODT + CLN (chưa tính phần đất tranh chấp), chênh lệch tăng 9.3m² so với diện tích được cấp theo giấy chứng nhận QSD đất. Thửa đất của nguyên đơn qua đo đạc thực tế có sự chênh lệch giảm 109.1m² và tính luôn phần đất tranh chấp vị trí D mà phía nguyên đơn thoả thuận được với bị đơn phía ông X thì có diện tích 372.9m² vẫn còn thiếu 87.1m². Trường hợp tính luôn phần đất tranh chấp vị trí B: 58m², C: 40.7m² thì thửa 1364 có diện tích 471.6m², chênh lệch tăng là 11.6m², trong khi thửa 1365 của bị đơn Thức chưa tính phần đất tranh chấp đã tăng 9.3m². Bị đơn cho rằng đã xây tường rào từ năm 2004 nhưng nguyên đơn không phản đối và bị đơn đã xác định ranh từ đó. Tuy nhiên, nếu căn cứ về hình thể thửa đất so với giấy chứng nhận của ông T2 thì không phù hợp. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên không chấp yêu cấu phản tố cũng như kháng cáo của bị đơn.
Đối với tài sản trên đất tranh chấp tại vị trí D có tài sản của bị đơn ông X. Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông X đồng ý tháo dỡ, di dời. do đó, ghi nhận sự tự nguyện này.
Đối với diện tích đất tại vị trí B, C theo bản trích đo buộc bị đơn ông T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà G, anh H có trách nhiệm tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, cây trồng để giao trả cho nguyên đơn. Riêng giếng bơm nước của bị đơn nguyên đơn được quyền sử dụng và có trách nhiệm bồi hoàn giá trị cho bị đơn 5.000.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: đương sự phải chịu theo quy định.
[6] Về chi phí thẩm định, định giá và lệ phí bản vẽ: đương sự phải chịu theo qui định tại Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông T2 phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005772 ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành tiền án phí. Ông T2 đã nộp xong.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về phần thủ tục, cũng như đề xuất về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Các Điều 6, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Điều 165, Điều 166, Điều 175 Bộ luật dân sự 2015.
Điều 99, 166, 170 Luật đất đai 2013.
Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Văn T2. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Văn K.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Trịnh Văn X là Phạm Thị X1, Trịnh Minh N, Trịnh Quang T1, Trịnh Hoàng Â, Trịnh Thị Yến O, Trịnh Thị Yến P1 và Trịnh Thanh L.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trịnh Văn T2.
Nguyên đơn ông Trịnh Văn K được quyền sử dụng diện tích vị trí D 19.7m², vị trí B diện tích 32.6m², vị trí C diện tích 40.7m² theo bản trích đo địa chính thuộc thửa 1364, tờ bản đồ số 2, do ông Trịnh Văn K đứng tên sổ mục kê ruộng đất. Đất toạ lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Trịnh Văn X là Phạm Thị X1, Trịnh Minh N, Trịnh Quang T1, Trịnh Hoàng Â, Trịnh Thị Yến O, Trịnh Thị Yến P1 và Trịnh Thanh L được quyền sử dụng vị trí A diện tích 19.7m² theo bản trích đo địa chính thuộc một phần thửa 1363, tờ bản đồ số 02, giấy chứng nhận QSD đất số H01951 do ủy ban nhân dân huyện T (trước đây) cấp ngày 04/01/2007 cho ông Trịnh Văn X đứng tên. Đất toạ lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ và có trách nhiệm tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản để trả lại phần đất cho nguyên đơn Trịnh Văn K có diện tích tại vị trí D: 19.7m² theo bản trích đo địa chính. Đất tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Buộc bị đơn Trịnh Văn T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Hương G, Trịnh Khắc H cùng có trách nhiệm tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, cây trồng để trả lại phần đất cho nguyên đơn Trịnh Văn K có diện tích tại vị trí B: 32.6m² vị trí C: 40.7m² theo bản trích đo địa chính ngày 01/10/2024 của văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Đất tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn ông Trịnh Văn K được quyền sử dụng 01 giếng bơm nước và có trách nhiệm trả giá trị cho bị đơn ông Trịnh Văn T2 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án chậm trả số tiền trên, còn phải chịu lãi theo mức lãi suất được qui định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tài sản, biên bản định giá tài sản do Tòa án lập ngày 15/8/2023 và bản trích đo địa chính số 819/VPĐKĐĐ ngày 24/9/2024 có xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C ngày 01/10/2024 để xác định vị trí, kích thước phần đất, tài sản tranh chấp, diện tích phần đất đương sự được sử dụng.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Trịnh Văn K là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Trịnh Văn X là Phạm Thị X1 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định. Còn Trịnh Minh N, Trịnh Quang T1, Trịnh Hoàng Â, Trịnh Thị Yến O, Trịnh Thị Yến P1 và Trịnh Thanh L phải chịu số tiền 257.000đ (hai trăm năm mươi bảy nghìn đồng), nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005541 ngày 11/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, Tp .. Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh Văn X được nhận lại 43.000đ (bốn mươi ba nghìn đồng).
Bị đơn ông Trịnh Văn T2 phải chịu số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005550 ngày 16/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, Tp ..
Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định, định giá và lệ phí bản vẽ địa chính: Hội đồng chi các khoản hết 21.300.000đ (hai mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng), trong đó nguyên đơn tạm ứng 14.300.000đ (mười bốn triệu ba trăm nghìn đồng), bị đơn ông T2 tạm ứng 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng), bị đơn ông X tạm ứng 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) và chi xong. Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Trịnh Văn X là Phạm Thị X1, Trịnh Minh N, Trịnh Quang T1, Trịnh Hoàng Â, Trịnh Thị Yến O, Trịnh Thị Yến P1 và Trịnh Thanh L phải chịu 10.650.000đ (mười triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng), nên phải nộp 7.150.000đ (bảy triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) để chuyển trả cho nguyên đơn. Bị đơn ông Trịnh Văn T2 phải chịu 10.650.000đ (mười triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng), nên phải nộp 7.150.000đ (bảy triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) để chuyển trả cho nguyên đơn .
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T2 phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005772 ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành tiền án phí. Ông T2 đã nộp xong.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Thị Trang Thư Võ Bích Hải | Nguyễn Văn Hải Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 176/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 176/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
