Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 197/2024/HS-ST

Ngày: 13/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Nam Định, tỉnh Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định

tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 197/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1985, tại: phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Hoàng Thị H (đã chết); có vợ là Hà Thị N và 02 con, sinh năm 2005 và 2006; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 19/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 9/5/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tổ công tác Công an thành phố N phối hợp Công an phường M, thành phố N tiến hành kiểm tra tại nhà của Trần Văn T, ở tổ dân phố G, phường M, thành phố N phát hiện Trần Văn T cùng Trần Văn Đ, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố G, phường M, thành phố N; Bùi Thế T1, sinh năm 1983, trú tại thôn H, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định (nay là xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định); Vũ Đại P, sinh năm 1983, trú tại 5 T, phường M, thành phố N và Đồng Xuân H1, sinh năm 1972, trú tại 2 T, phường T, thành phố N có biểu hiện hành vi, phạm tội về ma túy. Thu giữ trong túi quần bên trái phía sau Đồng Xuân H1 đang mặc 01 gói nilong màu trắng, bên trong là 01 túi nilong màu trắng, kích thước (2x2)cm, trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu M1 (H1 khai là Heroine mua của T1 với giá 200.000 đồng mục đích để sử dụng); thu giữ trong túi quần bên phải của Trần Văn T đang mặc 01 túi ni long màu trắng, kích thước khoảng (4x7)cm, bên trong có 07 túi nilong màu trắng đều có kích thước (2x2)cm, trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu M2 (T khai là Heroine mua về để bán kiếm lời). Kiểm tra trên người Trần Văn H2 và Bùi Thế T1 không thu giữ gì.

Thu giữ trong phòng khách nhà Trần Văn T:

  • Trên mặt bàn uống nước có 01 xi lanh nhựa loại 3ml, đã qua sử dụng, bên trong xi lanh nhựa chứa một ít dung dịch, niêm phong ký hiệu M3 và 01 vỏ ống Novocain bằng thủy tinh, đã qua sử dụng đều là dụng cụ của P mang đến nhà T để sử dụng ma túy;
  • 01 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước khoảng (3x8)cm, trên bề mặt có bám dính chất bột màu trắng, niêm phong kí hiệu M4 (Bùi Thế T1 khai tự ý lấy mảnh giấy bạc còn một ít Heroine của Trần Văn T sử dụng mà Trần Văn T không biết);
  • 01 vỏ túi ni lông bị xé một đầu, trên vỏ túi có chữ Bơm tiêm sử dụng 1 lần 3ml;
  • 01 vỏ bao thuốc lá HERO, bên trong có 08 mảnh giấy bạc màu trắng đều có kích thước khoảng (3x8)cm;
  • 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng;
  • Dưới gầm bàn 01 hộp kim loại hình tròn, đường kính khoảng 26cm, cao khoảng 07 cm, bên trong có 15 vỏ túi ni lông, trong đó 11 vỏ túi ni lông màu trắng đều có kích thước khoảng (2x2)cm và 04 vỏ túi ni lông màu trắng đều có kích thước khoảng (4x7)cm, bên trong các vỏ túi ni lông trên đều chứa chất bám dính dạng bột màu trắng, niêm phong kí hiệu M5;
  • Trên cửa sổ phía bên phải cửa ra vào (hướng từ bên ngoài vào trong nhà): 01 bộ bình thủy tinh cao khoảng 14cm, trên nắp bình có cắm 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 đoạn ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 14cm (một đầu hình cầu), bên trong có chứa chất bám dính dạng tinh thể màu trắng, niêm phong kí hiệu M6;
  • Trên nền nhà phía dưới cửa sổ phía bên trái cửa ra vào (hướng từ bên ngoài vào trong nhà) có có 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (là tiền của Trần Văn T, trong đó có một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng là tiền T bán một gói Heroine cho H1) niêm phong kí hiệu M7.

Ngoài ra, tạm giữ của Trần Văn T 01 điện thoại di động Nokia, màu đen và 01 điện thoại di động màu đen (mặt trước bị nứt vỡ), đều đã cũ; Trần Văn Đ 01 chiếc điện thoại di động S màu đen, đã cũ; Vũ Đại P 01 điện thoại di động Iphone màu trắng hồng, đã cũ; Bùi Thế T1 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B2 - 901.82 và 01 điện thoại di động Iphone màu trắng hồng, đã cũ (BL 8-15).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn T tại địa chỉ tổ dân phố G, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành thu mẫu nước tiểu của Đồng Xuân H1, Vũ Đại P, Bùi Thế T1, Trần Văn Đ, Trần Văn T, lần lượt niêm phong ký hiệu: N1, N2, N3, N4, N5 trưng cầu giám định.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu giám định dấu vết đường vân tay trên 04 tờ tiền niêm phong ký hiệu M7 và trưng cầu giám định ADN chất màu nâu trong giám định xilanh nhựa 3ml (đã qua sử dụng) và mẫu tóc, móng tay của Vũ Đại P, ký hiệu T2

Bản kết luận giám định số 887/KL-KTHS ngày 16/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • Mẫu bột dạng cục màu trắng và mẫu bột màu trắng bám dính được niêm phong ký hiệu M1, M2, M4 và M5 gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: Heroine (H). Khối lượng mẫu M1: 0,032 gam; Tổng khối lượng mẫu M2: 0,955 gam; Khối lượng mẫu M4: không xác định được khối lượng mẫu; Tổng khối lượng mẫu M5: không xác định được khối lượng mẫu.
  • Có tìm thấy chất H3 (Heroin) trong dung dịch đựng trong 01 (một) xi lanh nhựa loại 3ml đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định. Thể tích mẫu M3: không xác định được thể tích mẫu; Khối lượng chất ma túy có trong mẫu M3: không xác định được khối lượng chất ma túy (Heroine) có trong mẫu.
  • Mẫu dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 01 (một) đoạn ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 14cm, có một đầu hình cầu được niêm phong ký hiệu M6 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M6: không xác định được khối lượng mẫu.
  • Có tìm thấy thành phần các chất gồm: Morphine, C và 6-MAM trong mẫu nước tiểu thu giữ của Đồng Xuân H1 được niêm phong ký hiệu N1 gửi giám định.
  • Có tìm thấy thành phần các chất gồm: Methamphetamine, M, C và 6-MAM trong mẫu nước tiểu thu giữ của Vũ Đại P được niêm phong ký hiệu N2 gửi giám định.
  • Có tìm thấy thành phần các chất gồm: Methamphetamine, M, C và 6-MAM trong mẫu nước tiểu thu giữ của Bùi Thế T1 được niêm phong ký hiệu N3 gửi giám định.
  • Có tìm thấy thành phần các chất gồm: Methamphetamine, M, C và 6-MAM trong mẫu nước tiểu thu giữ của Trần Văn Đ được niêm phong ký hiệu N4 gửi giám định.
  • Có tìm thấy thành phần các chất gồm: Methamphetamine, M, C và 6-MAM trong mẫu nước tiểu thu giữ của Trần Văn T được niêm phong ký hiệu N5 gửi giám định ( BL 47-48).

Bản kết luận giám định số 888/KL-KTHS ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Trên các mẫu vật cần giám định ký hiệu M7 không phát hiện thấy dấu vết đường vân.

Bản kết luận số 3536/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của V Bộ C1 kết luận: Chất màu nâu nghi máu trong xi lanh gửi giám định là máu người và là máu của Vũ Đại P.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T khai nhận: Ngày 08/5/2024, T mua 01 gói Heroine và 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng mục đích để sử dụng bản thân; đến khoảng 09 giờ ngày 09/5/2024, Trần Văn Đ là em họ sang nhà T chơi, Đ đã tự ý lấy Heroine của T (do T đã dùng trước đó còn thừa lại để trên vỏ bao thuốc lá trên mặt bàn uống nước), sử dụng bằng hình thức hít, lúc này T đi ra ngoài hiên nhà ngồi sử dụng điện thoại nên không biết Đ sử dụng ma túy, sau đó Đ đi về nhà.

Khoảng 15 giờ ngày 9/5/2024, T điều khiển xe máy đến khu vực 3 tầng đường P, phường T, thành phố N gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) mua 500.000 đồng H3, người đàn ông đưa cho T 01 túi ni lông màu trắng, bên trong có 08 túi nhỏ ni lông màu trắng đều chứa Heroine), T đem số ma túy mua được về nhà, mục đích có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Vũ Đại P dùng điện thoại di động số 0917.216.xxx gọi đến số điện thoại di động 0836.825.xxx lắp trong chiếc điện thoại N1 màu đen của T hỏi mua 200.000 đồng Heroine, T đồng ý, bảo P chuyển 200.000 đồng vào tài khoản 8120147263118 ngân hàng MB của T và hẹn P đến nhà T để lấy Heroine. Do P không có tài khoản ngân hàng nên P nhờ anh Nguyễn Hồng H4, sinh năm 1987, trú tại F đường V, phường H, thành phố N (là người bán nước vỉa hè ở khu vực sân vận động T3, thành phố N) chuyển hộ 200.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của T, anh H4 đồng ý, P không nói cho anh H4 biết nội dung chuyển tiền mua ma túy. Số tiền 200.000 đồng bán ma túy cho P, T tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Thế T1 điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B2 - 901.82 đến nhà Trần Văn T chơi, cả hai ngồi nói chuyện tại bàn uống nước trong phòng khách, được một lúc thì Trần Văn T gục xuống mặt bàn ngủ; còn Bùi Thế T1 nhìn thấy có một ít Heroine để trên mặt bàn uống nước nên tự ý lấy mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa ga có sẵn trên bàn rồi cho H3 lên giấy bạc và sử dụng bằng hình thức hít. Do đang ngủ nên Trần Văn T không biết Bùi Thế T1 sử dụng Heroine. Sau khi sử dụng Heroine xong, Bùi Thế T1 để tờ giấy bạc và chiếc bật lửa trên mặt bàn uống nước.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, P đi bộ đến nhà Trần Văn T, thì Đồng Xuân H1 cũng đi bộ đến; sau đó, P và H1 đi vào nhà phụ phía sau nhà thì thấy Đ, Trần Văn T và Bùi Thế T1 đang ngồi ở bàn uống nước, P hỏi Trần Văn T “có Heroine chưa” (trước đó P đã chuyển 200.000 đồng vào tài khoản của Trần Văn T để mua ma túy sử dụng ), lúc này Trần Văn T lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc ra 01 túi nilong nhỏ màu trắng có chứa Heroine, sau đó T đổ một phần Heroine lên vỏ bao thuốc lá đưa cho P, phần Heroine còn lại T gói lại cất đi. P nhận số Heroine T đưa và hỏi T cho P sử dụng số H3 đã mua tại nhà T, T đồng ý, P lấy bộ dụng cụ 01 chiếc xi lanh và 01 ống Novocain (nước cất) chuẩn bị từ trước hòa tan Heroine cùng với nước cất vào trong xi lanh, rồi chích vào tay trái của P. Sử dụng Heroine xong, P để chiếc xi lanh nhựa, vỏ ống Novocain bằng thủy tinh và vỏ túi ni lông đựng xi lanh trên mặt bàn uống nước trong phòng khách nhà T. Đồng thời, H1 hỏi Trần Văn T mua 200.000 đồng Heroine, T đồng ý và đưa cho H1 một túi nhỏ ni lông màu trắng, bên trong có chứa Heroine (là túi Heroine trước đó T đã lấy ra một phần Heroine bán cho P tại nhà T), H1 cầm túi ma túy T đưa và dùng một miếng ni lông màu trắng gói túi Heroine này lại rồi cất vào túi quần bên trái phía sau đang mặc, rồi đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, T cầm tiền H1 đưa cất vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc và cất 01 túi ni lông màu trắng, bên trong đựng 07 túi nhỏ nilong đều chứa Heroine vào túi quần bên phải phía trước T đang mặc. Số tiền 600.000 đồng, T khai trong đó có 200.000 đồng là tiền bán ma túy cho H1, còn 400.000 đồng là tiền cá nhân của T (BL số 288-324).

Trong quá trình điều tra, lời khai của Trần Văn T phù hợp với các lời khai của Trần Văn Đ, Bùi Thế T1, Vũ Đại P, Đồng Xuân H1 và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong vụ án.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành xác minh: số điện thoại di động 0836.825.xxx và tài khoản 8120147263118 Ngân hàng M2 xác định chủ tài khoản Trần Văn T; số điện thoại di động 0917.216.xxx Vũ Đại P dùng để gọi đến số điện thoại 0836.825.xxx của Trần Văn T được xác định chủ thuê bao bà Bùi Thị H5, sinh năm 1944, ở tổ dân phố số C, phường M, thành phố N (mẹ đẻ P), bà H5 đăng ký thuê bao chính chủ, sau đó không có nhu cầu sử dụng nên bà cho P sử dụng số thuê bao này và không biết việc P sử dụng; số tài khoản 11458887799 Ngân hàng M2 xác định chủ tài khoản anh Nguyễn Hồng H4 sinh năm 1987, trú tại số nhà F V, phường H, thành phố N. Anh H4 không biết P nhờ chuyển hộ tiền để mua ma túy sử dụng nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh H4 (BL 211-213).

Hành vi của Trần Văn Đ và Bùi Thế T1 không mua Heroine, không góp bất cứ khoản tiền gì và tự ý lấy Heroine của Trần Văn T sử dụng tại nhà T, ngoài ra kết luận giám định nước tiểu của Đ và Bùi Thế T1 có thành phần Methamphetamine (Đ, Bùi Thế T1 khai trước đó cả hai tự mua ma túy đá của một người không quen biết mang về nhà của mình sử dụng). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Trần Văn Đ và Bùi Thế T1 và trả lại cho Trần Văn Đ 01 điện thoại, cho Bùi Thế T1 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B2-90.182.

Hành vi của Đồng Xuân H1 tàng trữ trái phép 0,032 gam Heroine dưới mức định lượng quy định, ngoài ra kết luận giám định nước tiểu của H1 có thành phần M1 (H1 khai trước đó mua của người không quen biết mang về nhà mình sử dụng) nên Công an thành phố N quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với H1

Hành vi của Vũ Đại P mua Heroine của Trần Văn T và sử dụng hết số đã Heroine mua tại nhà T, không xác định được khối lượng chất ma túy, Công an thành phố N, quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với P và trả lại cho P 01 điện thoại Iphone.

Cơ quan điều tra xác định Trần Văn T không rủ rê, không cung cấp, bán ma túy, địa điểm, dụng cụ và không nhìn thấy Trần Văn Đ và Bùi Thế T1 sử dụng Heroine tại nhà ở của mình nên Trần Văn T không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi liên quan đến việc Trần Văn Đ và Bùi Thế T1 sử dụng ma túy. Công an thành phố N đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Trần Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bản cáo trạng số 201/CT-VKSND - TPNĐ ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã thành khẩn khai báo toàn bộ các hành vi của mình gồm: Mua bán trái phép chất ma túy mục đích để bán lại cho Vũ Đại P và Đồng Xuân H1 nhằm kiếm lời; đồng ý để cho Vũ Đại P sử dụng Heroin ngay tại nhà ở của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”; phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
  • Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
    • + Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 vỏ ống NOVOCAIN đã qua sử dụng; 01 vỏ túi ni lông bị xé một đầu, trên vỏ túi có chữ Bơm tiêm sử dụng 01 lần 3ml; 01 vỏ bao thuốc lá HERO bên trong có 08 mảnh giấy bạc màu trắng đều có kịch thước khoảng (3x8)cm; 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bộ bình thuỷ tinh cao 14cm, trên nắp bình có căm 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 hộp kim loại hình tròn, đường kính khoảng 26cm, cao khoảng 07cm và 01 xi lanh trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định của V, Bộ C1 (M3); mẫu nước tiểu thu giữ trong túi niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 887/KL-KTHS (N1+N2+N3+N4+N5); cùng toàn bộ số vật chứng thu giữ trong vụ án được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 887/KL-KTHS (M1+M2+M4+M5+M6).
    • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng của bị cáo Trần Văn T đã bán ma tuý cho Đồng Xuân H1 và 02 điện thoại di động màu đen đều đã cũ của bị cáo Trần Văn T sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.
    • + Truy thu số tiền 200.000 đồng của bị cáo Trần Văn T đã bán ma tuý cho Vũ Đại P để sung ngân sách nhà nước.
    • + Trả lại cho bị cáo Trần Văn T số tiền 400.000 đồng. Nhưng tạm giữ để bảm bảo thi hành án.
  • Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Văn T không có tranh luận gì và nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ bao gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 09/5/2024; Biên bản thu dữ liệu bản ảnh vật chứng và các bản ảnh kèm theo; Biên bản thu mẫu ngày 10/5/2024; Biên bản khám xét khẩn cấp ngày 09/5/2024 và sơ đồ bắt giữ các đối tượng; Biên bản mở niêm phong, trích mẫu, đóng gói, niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định; Biên bản giao nhận lại đối tượng giám định; Kết luận giám định số 887/KL-KTHS ngày 16/5/2024; số 888/KL-KTHS ngày 24/5/2024 và số 3536/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N; các biên bản lấy lời khai; biên bản đối chất cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 20 giờ ngày 09/5/2024, tại nhà của Trần Văn T, ở tổ dân phố G, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Văn T đã có hành vi bán trái phép chất ma tuý Heroin cho Vũ Đại P, sinh năm 1983, cư trú tại số E T, phường M, thành phố N với giá 200.000 đồng (do P đã sử dụng hết số Heroin nên không xác định được khối lượng); đồng ý để cho P sử dụng Heroin ngay tại nhà ở của mình và bán trái phép 0,032 gam Heroin cho Đồng Xuân H1, sinh năm 1972, cư trú tại 2 T, phường T, thành phố N với giá 200.000 đồng. Ngoài ra, Trần Văn T còn tàng trữ trái phép 0,955 gam Heroin mục đích bán để kiếm lời (tổng khối lượng số Heroin là 0,987 gam), thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán ma túy và chứa chấp việc sử dụng ma tuý của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích kiếm lời nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi bán ma tuý và cho người khác sử dụng ma tuý tại chỗ ở của mình. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những tệ nạn xã hội phát triển, làm mất ổn định trật tự xã hội. Bị cáo T thực hiện việc bán trái phép ma tuý cho 02 cá nhân là Vũ Đại P và Đồng Xuân H1, nên bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

3.1. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trần Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

3.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

4.1. Về hình phạt chính: Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

4.2. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Trần Văn T bán ma tuý mục đích kiếm lợi nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật:

  • Đối với số ma tuý thu giữ được của bị cáo Trần Văn T tại phong bì niêm phong số 887/KL-KTHS ngày 16/5/2024 là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu huỷ;
  • Đối với 01 vỏ ống NOVOCAIN đã qua sử dụng; 01 vỏ túi ni lông bị xé một đầu; 01 bao thuốc lá HERO bên trong có 08 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bộ bình thuỷ tinh cao 14cm, trên nắp bình có cắm 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 hộp kim loại hình tròn; 01 xi lanh; các mẫu nước tiểu đã thu giữ xét thấy không còn giá trị sử dụng nên sẽ bị tịch thu tiêu huỷ;
  • Đối với số tiền 600.000 đồng thu giữ của Trần Văn T (trong đó có 200.000 đồng là tiền bán ma tuý cho Đồng Xuân H1). Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng và trả lại cho bị cáo Trần Văn T số tiền 400.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
  • Đối với 02 điện thoại di động màu đen đã cũ thu giữ được của Trần Văn T theo T khai sử dụng liên lạc để mua bán ma tuý nên sẽ tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền 200.000 đồng Vũ Đại P đã nhờ anh Nguyễn Hồng H4 chuyển khoản cho bị cáo Trần Văn T để mua ma tuý. Đây là số tiền mà bị cáo Trần Văn T bán mua tuý mà có, nên Hội đồng xét xử sẽ truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền này.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 251 và khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt bị cáo Trần Văn T phải chịu là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.

Phạt tiền bị cáo Trần Văn T 5.000.000 đồng (năm triệu) sung vào ngân sách nhà nước.

2. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 887/KL-KTHS ngày 16/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ ống NOVOCAIN đã qua sử dụng; 01 vỏ túi ni lông bị xé một đầu; 01 bao thuốc lá HERO bên trong có 08 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bộ bình thuỷ tinh cao 14cm, trên nắp bình có cắm 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 hộp kim loại hình tròn; 01 xi lanh; các mẫu nước tiểu đã thu giữ.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng và 02 điện thoại di động màu đen đã cũ của bị cáo Trần Văn T.
  • Trả lại cho bị cáo Trần Văn T số tiền 400.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Vật chứng, tài sản, đồ vật có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 282/YCN/2024 ngày 09/9/2024 và số 283/YCN/2024 ngày 09/9/2024).

Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng của bị cáo Trần Văn T.

3. Án phí sơ thẩm hình sự: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Văn T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Cơ quan THAHS – CA TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Bang

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 197/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 Xử phạt: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger