Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 176/2024/HS-ST

Ngày 12-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Minh Hoàng và Trần Công

Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Việt T-Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 182/2024/TLST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Cao Thanh T1, sinh năm 1975, tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi thường trú: nhà số I, đường C (số mới 828/11, đường T), Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (thực tế không có cư trú tại đây); nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Thanh H (chết) và bà Vũ Thị T2; có vợ và 04 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: ngày 29/8/2011, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm phạt 05 năm 06 tháng tù về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” (áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 là loại tội phạm rất nghiêm trọng, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 27/4/2015, nhưng chưa chấp hành các quyết định khác nên án tích chưa được xóa) tiền sự: ngày 02/11/2018, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 19/01/2020, chưa được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); ngày 28/9/2020, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 23/3/2022, chưa được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); nhân thân: theo kết quả trích lục tiền án, tiền sự thì bị cáo bị Công an quận T bắt vào ngày 03/12/1998 về hành vi “cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” (nhưng do qua xác minh, không có kết quả; còn bị cáo khai, đã được cho về và không bị xử lý gì nên không ghi nhận); bị tạm giữ ngày 02-10-2023, tạm giam ngày 11-10-2023 “có mặt”;

2. Nguyễn Nhật D, sinh năm 1997, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi thường trú: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: in ấn; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị H1; có vợ và 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 01/01/2020, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 03/02/2021, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); bị bắt tạm giữ ngày 01-10-2023 (tính theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường B, quận B lập lúc 23 giờ 10 phút ngày 01-10-2023 và kết thúc lúc 23 giờ 50 phút cùng ngày), tạm giam ngày 11-10-2023 “có mặt”.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Phạm Minh N, sinh năm 1998; Nơi thường trú và cư trú hiện nay: Tổ 14, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh “xin vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Phạm Minh N là người học nghề in ấn tại nhà của Nguyễn Nhật D, thuộc ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vào khoảng 13 giờ ngày 01/10/2023, anh N điều khiển xe môtô biển số 70F1-648.35 đến nhà D rồi giao xe cho D điều khiển chở đi Thành phố Hồ Chí Minh để giao tem nhãn dán quần áo tại chợ T4. Sau khi giao hàng xong thì đến khoảng 16 giờ cùng ngày, D chở anh N đến gặp Cao Thanh T1 tại phòng 201-Khách sạn E, số D, đường L, phường S, quận T (do trước đây nghe T1 nói nên D biết và tự đến chứ không có hẹn qua điện thoại). Sau khi gặp nhau, T1 có tặng cho N 01 khẩu súng ngắn ký hiệu ZP-5, mã số XYL221013130 và 03 viên đạn rồi ngồi nói chuyện được lúc thì D nói nhỏ với T1 cần mua ma túy để sử dụng và đưa cho T1 1.700.000 đồng. Sau đó, T1 đi ra ngoài để mua ma túy về bán lại cho D kiếm lời; còn DN vẫn ở lại trong phòng của T1 chơi rồi ngủ. Sau khi ra ngoài gặp được tên H2 (không rõ lai lịch) và theo hẹn vào khoảng 22 giờ cùng ngày, T1 đến khu vực chợ B, phường B, quận B mua 01 gói ma túy loại “hàng đá” của tên này với giá tiền 3.400.000 đồng rồi mang về phòng 201 chia ra thành 04 gói nhỏ và lúc này, do anh N còn ngủ nên không biết. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, anh N thức dậy đi vệ sinh thì bên ngoài, T1 giao bán cho D 01 gói ma túy theo giá đã đặt mua và đã trả trước 1.700.000 đồng; lúc này, D liền lấy gói ma túy cất vào trong túi áo phía trước bên phải; một lúc sau, anh N vệ sinh xong đi ra thì anh N đưa khẩu súng cho D cất giữ, còn anh N chỉ giữ 03 viên đạn rồi cùng D đi về nên anh N không biết gì về việc mua bán ma túy của DT1. Sau khi 02 người này về, T1 cất 02 gói ma túy vào trong cái rổ nhựa màu đỏ để trên bàn, 01 gói còn lại cất trong cái hộp nhựa màu đen trong cái balo trong tủ quần áo phòng 201 nhằm mục đích để dành sử dụng cho bản thân.

Lúc 23 giờ 00 cùng ngày, Tổ công tác Công an phường B, quận B tuần tra đến trước nhà số A, P, phường B, quận B thì nhìn thấy D đang điều khiển xe môtô biển số 70F1-648.35 chở anh N chạy trên đường có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu dừng xe lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, đã phát hiện và thu giữ trong từ trong túi áo phía trước bên phải của D có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu mà D cho biết là ma túy để sử dụng, còn trong lưng quần phía trước bên phải của D có 01 khẩu súng ngắn ký hiệu ZP-5, mã số XYL221013130; riêng anh N thì thu giữ được từ trong túi quần phía trước bên phải có 03 viên đạn nên Tổ công tác đưa tất cả đến Công an phường B xử lý và báo cáo cho Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Ma túy-Công an quận B biết để giải quyết.

Thực hiện mở rộng điều tra theo lời khai của D: Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Ma túy-Công an quận B kết hợp với Công an phường BCông an phường S, quận T kiểm tra phòng 201-Khách sạn E của T1 lúc 01 giờ ngày 02/10/2023, đã thu giữ từ trong cái rổ nhựa màu đỏ trên bàn có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu; đồng thời T1 còn tự nguyện lấy 01 gói nylon chứa tinh thể không màu từ trong cái hộp nhựa màu đen để trong cái balo cất bên trong tủ quần áo ra nộp cho Tổ công tác và khai đó là ma túy để dành sử dụng cho bản thân nên đưa T1 cùng với vật chứng đến C hồ sơ xử lý ban đầu rồi nhập toàn bộ vụ việc lại chuyển cho Cơ quan điều tra-Công an quận B giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, DT1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra D còn khai, đối với gói ma túy mà D mua của T1 là để sử dụng riêng cho bản thân, còn anh N không biết và cũng không liên quan gì về gói ma túy này. Lời khai của D, T1 và anh N phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ. Theo các kết luận giám định, 01 gói nylon chứa tinh thể không màu của D (do T1 bán cho D) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 14,7605g, loại Methamphetamine; 03 gói nylon chứa tinh thể không màu của T1 (để sử dụng) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 5,8716g, loại Methamphetamine; còn khẩu súng và 03 viên đạn như đã nêu trên “là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thể thao”, “nhóm vũ khí thể thao” thì, tuy T1, D và anh N cùng có hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao”, nhưng do chưa người nào có tiền án, tiền sự gì về hành vi được quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này và cả 03 người đều bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (có cả việc giải quyết 01 khẩu súng và 03 viên đạn trên theo các quyết định số: 822, 823, 824/QĐ-XPHC, ngày 23/10/2023). Như vậy, T1D chỉ chịu trách nhiệm hình sự về các hành vi có liên quan đến ma túy tương ứng, riêng anh N không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Cao Thanh T1 đã khai nhận: Khi bị cáo Nguyễn Nhật D và anh Phạm Minh N tự đến phòng 201-Khách sạn E do bị cáo thuê thì bị cáo có tặng cho anh N 01 khẩu súng ngắn ký hiệu ZP-5, mã số XYL221013130 và 03 viên đạn rồi tiếp tục nói chuyện chơi được lúc, bị cáo D nói nhỏ với bị cáo cần mua ma túy để sử dụng và đưa cho bị cáo 1.700.000 đồng. Sau đó, bị cáo đi ra ngoài để mua ma túy về bán lại cho bị cáo D kiếm lời; còn bị cáo D và anh N vẫn ở lại trong phòng của bị cáo. Sau khi gặp được tên H2 (không rõ lai lịch) và theo hẹn, bị cáo đến khu vực chợ B, phường B, quận B mua 01 gói ma túy loại “hàng đá” của tên này với giá tiền 3.400.000 đồng mang về phòng 201 thấy bị cáo D và anh N đang nằm ngủ trên giường nên bị cáo chia ra gói ma túy này ra thành 04 gói nhỏ rồi kêu bị cáo Duy thức dậy; do cả 02 người này cùng thức dậy một lúc nên chờ anh N đi vào nhà vệ sinh thì bị cáo mới giao gói ma túy cho bị cáo D đã đặt mua cất vào trong túi áo; đồng thời, lúc bị cáo D và anh N ra về, bị cáo mới lấy 02 gói ma túy còn lại để trong cái rổ nhựa trên bàn và 01 gói để trong cái hộp nhựa trong cái balo để ở tủ quần áo nhằm mục đích để dành sử dụng cho bản thân thì bị Công an kiểm tra bắt giữ nên anh N không biết gì về số ma túy của bị cáo. Còn bị cáo Nguyễn Nhật D thừa nhận lời khai trên của bị cáo T1 là hoàn toàn đúng; trước khi bị cáo đặt mua 01 gói ma túy loại “hàng đá” với giá 1.700.000 đồng của bị cáo T1 nhằm mục đích để dành sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nói gì cho anh N nghe, còn lúc anh N trong nhà vệ sinh thì bị cáo T1 mới giao gói ma túy này cho bị cáo lấy cất vào trong túi áo phía trước bên phải nên anh N không biết gì về số ma túy này; đến khi ra về, anh N có đưa khẩu súng cho bị cáo cất vào trong lưng quần phía trước bên phải, còn 03 viên đạn do anh N cất trong túi quần phía trước bên phải và khi cả 02 trên đường về thì bị Công an kiểm tra bắt giữ; riêng đối với anh N, hoàn toàn không biết và cũng không liên quan gì về số ma túy trên của các bị cáo. Do đó, các bị cáo thừa nhận chỉ có các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố; đồng thời, các bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định ma túy và việc giải quyết vật chứng.

Bản cáo trạng số: 179/CT-VKS, ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Cao Thanh TúNguyễn Nhật D ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử đối với bị cáo T1 về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Còn bị cáo D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã có ý kiến: bị cáo Cao Thanh T1 đã có hành vi bán số ma túy ở thể rắn, có khối lượng 14,7605g, loại Methamphetamine cho bị cáo Nguyễn Nhật D; ngoài ra, bị cáo còn có thêm hành vi cất giữ số ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,8716g, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ và lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Còn bị cáo Nguyễn Nhật D đã có hành vi cất giữ số ma túy ở thể rắn, có khối lượng 14,7605g, loại Methamphetamine (do mua của bị cáo T1) nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; bên cạnh đó, các bị cáo đều có nhân thân xấu nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng. Tuy nhiên, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T1 với mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội là từ 13 năm 06 tháng đến 15 năm tù. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo D với mức án từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Còn về vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô biển số 70K1-42652; giao trả lại gồm: anh Phạm Minh N 01 xe môtô biển số 70F1-64835, bị cáo T1 02 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và bị cáo D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi; tịch thu tiêu hủy gồm: 02 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy, 01 rổ nhựa, 01 hộp mắt kính và 01 balo.

Các bị cáo không ai tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố; còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo Cao Thanh T1Nguyễn Nhật D tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 01/10/2023, bị cáo T1 đã có hành vi bán 01 gói nylon chứa tinh thể không màu với giá 1.700.000 đồng cho bị cáo D tại phòng 201-Khách sạn E, số D, đường L, phường S, quận T; ngoài ra vào khoảng 01 giờ ngày 02/10/2023 cũng tại đây, bị cáo còn có thêm hành vi cất giữ 03 gói nylon chứa tinh thể không màu đều nhằm mục đích để dành sử dụng cho bản thân thì bị bắt giữ. Riêng bị cáo D là vào khoảng 23 giờ ngày 01/10/2023, tại trước nhà số A, P, phường B, quận B đã có hành vi cất giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu do vừa mới mua được của bị cáo T1 nhằm mục đích để dành sử dụng thì bị bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số: 11051/KL-KTHS, ngày 10/10/2023 của Phòng K-Công an Thành phố H thì: “Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Nhật D (đương sự), Đỗ Đắc H3 (người chứng kiến), Võ Vũ T3 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường B, quận B (ký hiệu mẫu m1)” và “Gói 2: Tinh thể không màu trong 03 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Cao Thanh T1 (đương sự), Nguyễn Vũ Duy A (người chứng kiến), Võ Vũ T3 (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường S, quận T (ký hiệu mẫu m2”, kết luận: mẫu mì là “ma túy ở thể rắn, có khối lượng 14,7605g, loại Methamphetamine”, mẫu m2 là “ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,8716g, loại Methamphetamine”; riêng bị cáo T1, đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, bị cáo Cao Thanh T1 đã phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại theo điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; còn bị cáo Nguyễn Nhật D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ được, biên bản niêm phong, mở niêm phong, kết luận giám định về ma túy; biên bản nhận dạng, đối chất...nên đã đủ chứng cứ buộc tội các bị cáo và một phần lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở nên chấp nhận; riêng về mức án đề nghị đối với bị cáo D là nặng nên cần phải xử bị cáo bằng một mức án thấp hơn cho phù hợp với mức án được quy định tại điểm, khoản đã bị truy tố. Còn đối với anh Phạm Minh N, do không biết và cũng không liên quan gì đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên không bị xử lý là có cơ sở; đối với người bán ma túy cho bị cáo T1 tên là H2, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét cho đến khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau. Riêng đối với trường hợp theo Kết luận giám định số: 11048/KL-KTHS, ngày 05/10/2023 của Phòng K-Công an Thành phố H thì: “01 khẩu súng ngắn ổ xoay, trên thân súng có chữ số “SMITH & WESSON, “ZP-5” và XYL221013130” (ký hiệu A1) và “03 viên đạn bằng kim loại có cùng cỡ 5,6mm x 15,6mm (ký hiệu A2) đã kết luận: “...A1, A2 không phải là vũ khí quân dụng”, “A1...là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thể thao” và “A2 ...thuộc nhóm vũ khí thể thao” nên tuy các bị cáo và anh N cùng có hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao”, nhưng do chưa người nào có tiền án, tiền sự gì về hành vi được quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên cả 03 người không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này và đều bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (có cả việc giải quyết 01 khẩu súng và 03 viên đạn trên theo các quyết định số: 822, 823, 824/QĐ-XPHC, ngày 23/10/2023) nên không xét.

[4] Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, không những mang tính chất liều lĩnh, xem thường pháp luật, góp phần làm lan tràn nạn nghiện ngập trong đời sống cộng đồng mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác nên cần phải xử các bị cáo mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo đã gây ra thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”; do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Trong đó, do bị cáo T1 thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhằm mục đích để thu lợi nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo một số tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước; riêng trường hợp bị cáo T1D cùng có hành vi về tàng trữ trái phép chất ma túy chỉ nhằm mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 khẩu súng ngắn ổ xoay, trên thân súng có chữ số SMITH & WESSON, “ZP-5” và XYL221013130 và 03 viên đạn bằng kim loại có cùng cỡ 5,6mm x 15,6mm đã được giải quyết tại các quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 822, 823, 824/QĐ-XPHC, ngày 23/10/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B nên không xét. Đối với 01 xe môtô biển số 70K1-42652 (thu giữ của Cao Thanh T1-đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) mà bị cáo T1 dùng làm phương tiện đi mua túy và khai: xe do mua của người không rõ lai lịch và không có giấy tờ; còn theo kết quả xác minh thì: biển số xe này trùng với xe biển số xe do anh Nguyễn Văn A1 đứng tên sở hữu và đã bán lại cho người khác không rõ lai lịch; Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến để giải quyết nên xét chiếc xe này thuộc trường hợp không xác định được chủ sở hữu thực tế là ai nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số thuê bao 0898393522 (thu giữ của Cao Thanh T1, đã qua sử dụng không kiêm tra bên trong) cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số thuê bao 0704446202 và 0772940797 của bị cáo T1; còn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số thuê bao 0989963494 và 0333558901 (thu giữ của Nguyễn Nhật D, đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) của bị cáo D thì tất cả đều không có liên quan gì đến hành vi phạm tội nên cần giao trả lại cho các bị cáo. Đối với 01 xe môtô biển số 70F1-64835 (thu giữ của Phạm Minh N đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) do anh Phạm Minh N đứng tên sở hữu và không có lỗi nên cần giao trả lại cho anh N. Riêng đối với 01 gói niêm phong bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Nhật D (đương sự), Võ Vũ T3 (điều tra viên), Đỗ Đắc H3 (người chứng kiến) và hình dấu Công An B, TP H; 01 gói niêm phong bên trong có 03 gói nylon chứa tinh thể không màu; bên ngoài có các chữ ký ghi tên Cao Thanh T1 (đương sự), Võ Vũ T3 (điều tra viên), Nguyễn Vũ Duy A (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường S, quận T là chất kích thích, Nhà nước cấm sử dụng; 01 rổ nhựa màu đỏ (thu giữ của Cao Thanh T1), 01 hộp mắt kính màu đen (thu giữ của Cao Thanh T1) và 01 balo màu nâu (thu giữ của Cao Thanh T1) của bị cáo T1 dùng chứa đựng ma túy nên cần tịch thu tất cả để tiêu hủy.

[7] Các bị cáo Cao Thanh T1Nguyễn Nhật D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
    1. Căn cứ vào điểm i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015.
      • - Xử phạt bị cáo Cao Thanh T1 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Cao Thanh T1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02-10-2023.
      • - Phạt bổ sung bị cáo Cao Thanh T1 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để sung quỹ Nhà nước.
    2. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
      • Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật D 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 01-10-2023.
  2. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô biển số 70K1-42652 (thu giữ của Cao Thanh T1-đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong).
    • - Giao trả lại cho: bị cáo Cao Thanh T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số thuê bao 0898393522 (thu giữ của Cao Thanh T1, đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số thuê bao 0704446202 và 0772940797; bị cáo Nguyễn Nhật D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số thuê bao 0989963494 và 0333558901 (thu giữ của Nguyễn Nhật D, đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong); anh Phạm Minh N 01 xe môtô số 70F1-64835 (thu giữ của Phạm Minh N đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong).
    • - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 gói niêm phong bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Nhật D (đương sự), Võ Vũ T3 (điều tra viên), Đỗ Đắc H3 (người chứng kiến) và hình dấu Công An B, TP H; 01 gói niêm phong bên trong có 03 gói nylon chứa tinh thể không màu; bên ngoài có các chữ ký ghi tên Cao Thanh T1 (đương sự), Võ Vũ T3 (điều tra viên), Nguyễn Vũ Duy A (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường S, quận T; 01 rổ nhựa màu đỏ (thu giữ của Cao Thanh T1), 01 hộp mắt kính màu đen (thu giữ của Cao Thanh T1) và 01 balo màu nâu (thu giữ của Cao Thanh T1).
    • (Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK24/164TV, ngày 06/5/2024)
  3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
    • Các bị cáo Cao Thanh T1Nguyễn Nhật D mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
    • Các bị cáo Cao Thanh T1Nguyễn Nhật D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Minh N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - VKSND Q.BT;
  • - CQĐT-CA Q.BT;
  • - Nhà tạm giữ-CA Q.BT;
  • - Chi cục THA DS Q.BT;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu hs, Vp.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 176/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Thanh T và đồng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger