|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 176/2024/HS-PT |
Ngày: 04-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Thường |
| Các Thẩm phán: | Ông Trần Quốc Cường |
| Ông Nguyễn Cường |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 633/2023/TLPT-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Võ Thị V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2023/HS-ST ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:
Võ Thị V, sinh ngày 13/8/1983, tại tỉnh Bình Định; nơi thường trú: 2 Đ, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nơi tạm trú: số A V, thị trấn P, huyện C, Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H và bà Đặng Thị Y (đã chết) có chồng là Nguyễn Ngọc M (đã chết) và có 02 người con chung với anh M sinh năm 2008 và sinh năm 2012. Bị cáo sống như vợ chồng với Nguyễn Thế P và có 01 con chung sinh năm 2019; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/7/2022 cho đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Mạnh H1 - Văn phòng L5, thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. Địa chỉ: B L, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai, có mặt.
Bị hại liên quan đến kháng nghị:
1
- Ông Đỗ Đình T, sinh năm 1969. Trú tại: tổ C, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai, có mặt.
- Chị Hồ Thị Hồng L, sinh năm 1977. Trú tại: tổ A, phường N, thị xã A, tỉnh Gia Lai, có mặt.
- Chị Đoàn Thị Mỹ T1, sinh năm 1997. Trú tại: thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị:
- Chị Võ Thị H2, sinh năm 1977; Trú tại: tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Thị V làm nghề buôn bán các loại thực phẩm (rau, thịt, cá,...) tại thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trong thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 01/2021, V nhiều lần bán hàng hóa, lương thực, thực phẩm cho Tiểu đoàn Cối 100 và Tiểu đoàn 1 thuộc Sư đoàn B1, Quân khu E (đóng quân tại thị xã A, tỉnh Gia Lai). Quá trình nhập hàng hóa các đơn vị này đã thanh toán tiền dứt điểm và chấm dứt việc mua bán với V. Khoảng thời gian từ cuối năm 2020 đến đầu năm 2021 do làm ăn bị thua lỗ và vay mượn nhiều người, Võ Thị V không còn khả năng tài chính duy trì hoạt động làm ăn, buôn bán nên Võ Thị V nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền, tài sản của người khác, để tiêu xài và trả nợ cá nhân.
Trong thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 5/2022, V đã đưa ra các lý do không có thật là cần tiền vốn để mua heo bán cho các đơn vị bộ đội và đang nhập hàng hóa, lương thực, thực phẩm cho các đơn vị bộ đội để làm cho người khác tin cho V vay mượn tiền, bán hàng hóa, lương thực thực phẩm cho V nợ tiền. Để mua nợ heo của các hộ dân V đưa ra giá mua cao hơn các thương lái khác và nói là mua heo bán cho các đơn vị bộ đội sau đó từ 5 đến 10 ngày đơn vị bộ đội mới thanh toán tiền cho V để V trả cho các hộ bán heo. Với thủ đoạn gian dối trên V làm cho người khác tin tưởng cho mượn tiền, bán heo, các hàng hóa lương thực thực phẩm và bị V chiếm đoạt. V mua với giá cao hơn thị trường đồng thời bán với giá thấp hơn thị trường, tiền bán được V trả một phần cho người bán, phần còn lại V chiếm đoạt cùng với số tiền vay mượn. Với thủ đoạn trên Võ Thị V đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 27 người dân trên địa bàn thị xã A và huyện Đ với số tiền 4.539.231.000 đồng cụ thể như sau:
- Ông Đỗ Đình T: Từ ngày 25/7/2021 đến ngày 30/7/2021, V đi cùng Võ Thị H2 (trú tại tổ B, phường A, thị xã A) là người V thuê đi tìm người có nhu cầu bán heo hơi để thỏa thuận, trực tiếp cân heo từ các hộ dân giúp V rồi V trả tiền công theo ngày cho H2) đến mua của ông T 110 con heo với số tiền bán heo là 592.490.000 đồng, V đã trả cho ông T số tiền 358.200.000 đồng. V nói với ông T cho nợ số tiền 224.290.000 đồng sau khi bán heo cho thương lái, nhận được tiền sẽ trả cho ông T. Do quen biết với H2 nên ông T đề nghị chị H2 đứng ra ký nhận nợ số tiền trên của ông T. Tuy nhiên, sau khi bán heo V lấy tiền không trả cho ông T mà chiếm đoạt. Về dân sự, ông T yêu cầu V phải trả số tiền 224.290.000 đồng mà V chiếm đoạt.
- Bà Lê Thị Lệ S: Ngày 07/9/2021, V mua của bà S 11 con heo với số tiền 62.593.000 đồng. V nói sau khi bán heo có tiền sẽ trả cho bà S. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái V lấy tiền không trả cho bà S mà chiếm đoạt. Về dân sự, bà S yêu cầu V phải trả số tiền 62.593.000 đồng.
- Ông Nguyễn Văn N: Ngày 10/9/2021, V mua của ông N 07 con heo với số tiền 43.089.000 đồng. V nói sau khi bán heo có tiền sẽ trả cho ông N. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái V lấy tiền nhưng không trả và chiếm đoạt. Về dân sự, ông N yêu cầu V phải trả số tiền 43.089.000 đồng.
- Bà Hồ Thị Hồng L: Ngày 14/8/2021, V đi cùng Võ Thị H2 mua của bà L 19 con heo với số tiền 109.944.000 đồng. Bà H2 viết giấy nợ tiền mua heo của bà L với số tiền 109.944.000 đồng. Sau nhiều lần bà L yêu cầu thanh toán tiền mua heo, trong thời gian từ ngày 10/9/2021 đến ngày 20/9/2021 V đã trả cho bà L tổng số tiền 80.000.000 đồng, số tiền còn lại 29.944.000 đồng V chiếm đoạt. Về dân sự bà L yêu cầu V phải trả số tiền 29.944.000 đồng.
- Bà Đặng Thị H3: Khoảng tháng 7/2021, V mua của bà H3 07 con heo với số tiền 44.380.000 đồng. V bán heo cho thương lái, có tiền V đã trả cho bà H3 số tiền 10.900.000 đồng, V xin bà H3 cho nợ số tiền 33.480.000 đồng, thực tế V không trả mà chiếm đoạt số tiền trên của bà H3. Về dân sự bà H3 yêu cầu V phải trả số tiền 33.480.000 đồng.
- Bà Hồ Thị L1: Ngày 27/9/2021, V đi cùng Võ Thị H2 mua của bà L1 12 con heo với số tiền 61.700.000 đồng. V nói sau khi bán heo có tiền sẽ trả cho bà L1. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái V lấy tiền không trả cho bà L1 mà chiếm đoạt. Về dân sự bà L1 yêu cầu V phải trả số tiền 61.700.000 đồng.
- Ông Trần Văn Q: Ngày 04/9/2021, V mua của ông Q 30 con heo với số tiền 176.650.000 đồng. V nói sau khi bán heo có tiền sẽ trả cho ông Q. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái lấy tiền, V không trả cho ông Q. Đến ngày 25/9/2021, V chỉ trả cho ông Q số tiền 61.000.000 đồng rồi viết giấy nhận nợ ông Q số tiền 115.650.000 đồng Ngày 01/10/2021, V thế chấp cho ông Q GCNQSDĐ số CE621048 mang tên Nguyễn Thế P (là người sống chung như vợ chồng với Võ Thị V và có một con chung) để làm tin. Nhưng sau đó V không trả tiền cho ông Q nữa mà đã chiếm đoạt số tiền nêu trên. Về dân sự ông Q yêu cầu V phải trả số tiền 115.650.000 đồng.
- Bà Phạm Thị Kim P1: Ngày 02/9/2021, V mua của bà P1 08 con heo với số tiền 34.715.000 đồng. V nói sau khi bán heo có tiền sẽ trả cho bà P1. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái lấy tiền, V không trả cho bà P1 mà chiếm đoạt. Về dân sự bà P1 yêu cầu V phải trả số tiền 34.715.000 đồng (BL số 538, 540-543: Đơn và lời khai bị hại).
3
- Ông Trương Mãnh L2: Ngày 06/10/2021, V đi cùng H2 đến mua của ông L2 17 con heo với số tiền 63.544.000 đồng (Sáu mươi ba triệu năm trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), V nói sau khi bán heo có tiền sẽ trả cho ông L2. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái lấy tiền, V không trả cho ông L2 mà chiếm đoạt. Về dân sự ông L2 yêu cầu V phải trả số tiền 63.544.000 đồng.
- Ông Phạm Đ: Ngày 19/9/2021, V mua của ông Đ 28 con heo với số tiền 144.196.000 đồng. V nói sau khi bán heo có tiền sẽ trả cho ông Đ. Tuy nhiên, V bán heo có tiền nhưng V không trả mà chiếm đoạt số tiền trên của ông Đ. Về dân sự ông Đ yêu cầu V phải trả số tiền 144.196.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị H4: Bà H4 buôn bán cám cho một số hộ dân nuôi heo, khi biết V đi thu mua heo nên bà H4 đã giới thiệu V mua heo của 04 hộ dân để họ có tiền trả nợ tiền cám cho bà H4, cụ thể như sau:
- - V mua của bà Nguyễn Thị T2 (trú tại thôn A, xã X, thị xã A) 06 con heo với số tiền là 26.076.000 đồng.
- - V mua của bà Nguyễn Thị T3 (tú tại thôn A, xã X, thị xã A) 05 con heo, với số tiền 26.620.000 đồng.
- - V mua của bà Nguyễn Thị T4 (trú tại thôn A, xã C, thị xã A) 04 con heo với số tiền 16.728.000 đồng.
- - V mua của bà Phùng Thị B (trú tại thôn A, xã C, thị xã A) 05 con heo với số tiền 25.194.400 đồng.
Bà H4 đã cấn trừ tiền cám mà 04 hộ dân trên nợ, được 04 hộ dân trên đồng ý. Sau khi V mua heo của 04 hộ dân, V hứa hẹn sẽ trả tiền cho bà H4. Tuy nhiên, sau khi bán heo V lấy tiền không trả cho bà H4 mà chiếm đoạt tổng số tiền 96.424.000 đồng. Vì bà H4 đã thỏa thuận với các bà T2, T3, T4, B nên bà H4 đã trả hết số tiền mua heo cho những hộ dân này nên bà H4 làm đơn tố cáo V chiếm đoạt của bà H4 số tiền 96.424.000 đồng. Về dân sự bà H4 yêu cầu V phải trả số tiền 96.424.000 đồng.
- Bà Phạm Thị X: Ngày 17/9/2021, V mua của bà X 12 con heo với số tiền 62.222.000 đồng. Sau khi mua heo, V nói bà X cho V nợ số tiền trên sau khi bán heo cho bộ đội có tiền sẽ trả cho bà X nhưng sau khi V bán heo lấy tiền không trả cho bà X mà chiếm đoạt. Về dân sự bà X yêu cầu V phải trả số tiền 62.222.000 đồng.
- Ông Nguyễn Bá K: Ngày 13/9/2021 và ngày 17/9/2021, V mua của ông K 27 con heo với số tiền 141.953.000 đồng. V hứa hẹn bán heo xong, nhận được tiền thì sẽ trả cho ông K. Tuy nhiên, sau khi bán heo V lấy tiền không trả cho ông K mà chiếm đoạt. Về dân sự ông K yêu cầu V phải trả số tiền 141.953.000 đồng.
- Bà Đoàn Thị Mỹ T1: Ngày 20/9/2021, V đi cùng Võ Thị H2 đến nhà bà T1 mua 07 con heo với số tiền 35.308.000 đồng. Sau khi mua heo, V nói bà T1 cho V nợ số tiền trên, khi lấy tiền sẽ trả tiền cho bà T1. Tuy nhiên, sau khi bán heo, V lấy tiền không trả cho bà T1 mà chiếm đoạt. Về dân sự bà T1 yêu cầu V phải trả số tiền 35.308.000 đồng.
4
- Ông Đoàn Ngọc H5: Ngày 24/9/2021, V mua của ông H5 15 con heo với số tiền 63.700.000 đồng. V nói với ông H5 cho V nợ số tiền trên sau khi bán heo lấy tiền sẽ trả cho ông H5. Tuy nhiên, sau khi bán heo V lấy tiền, không trả cho ông H5 mà chiếm đoạt. Về dân sự ông H5 yêu cầu V phải trả số tiền 63.700.000 đồng.
- Bà Bùi Thị Ngọc T5: Ngày 20/9/2021, V mua của bà T5 10 con heo với số tiền 51.792.000 đồng. V nói với bà T5 cho V nợ số tiền trên sau khi bán heo lấy tiền sẽ trả cho bà T5. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái lấy tiền, V không trả cho bà T5 mà chiếm đoạt. Về dân sự bà T5 yêu cầu V phải trả số tiền 51.792.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Trúc L3: Ngày 08/9/2021, V mua của bà L3 11 con heo với số tiền 64.790.000 đồng. V nói với bà L3 cho V nợ số tiền trên sau khi bán heo lấy tiền sẽ trả cho bà L3. Tuy nhiên, sau khi bán heo thương lái lấy tiền, V không trả cho bà L3 mà chiếm đoạt. Về dân sự bà L3 yêu cầu V phải trả số tiền 64.790.000 đồng.
- Bà Trần Thị Thu T6: Ngày 13/9/2021, V mua của bà T6 11 con heo với số tiền 72.176.000 đồng. V nói với bà T6 cho V nợ số tiền trên sau khi bán heo lấy tiền sẽ trả cho bà T6. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái lấy tiền, V không trả cho bà T6 mà chiếm đoạt. Về dân sự, bà T6 yêu cầu V phải trả số tiền 71.176.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị N1: Ngày 21/9/2021, V mua của bà N1 13 con heo với số tiền 64.250.000 đồng. Sau khi mua heo, V nói với bà N1 cho V nợ số tiền trên sau khi bán heo lấy tiền sẽ trả cho bà N1. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái lấy tiền, V không trả cho bà N1 mà chiếm đoạt. Về dân sự bà N1 yêu cầu V phải trả số tiền 64.250.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc S1: Ngày 26/9/2021, V mua của bà S1 08 con heo với số tiền 44.022.000 đồng. V nói với bà S1 cho V nợ số tiền trên sau khi bán heo lấy tiền sẽ trả cho bà S1. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái lấy tiền, V không trả cho bà S1 mà chiếm đoạt. Về dân sự bà S1 yêu cầu V phải trả số tiền 44.022.000 đồng.
- Bà Tô Thị H6: Ngày 22/9/2021, V đi cùng Võ Thị H2 mua của bà H6 07 con heo với số tiền 33.384.000 đồng. V nói với bà H6 cho V nợ số tiền trên sau khi bán heo lấy tiền sẽ trả cho bà H6. Tuy nhiên, sau khi bán heo cho thương lái lấy tiền, V không trả cho bà H6 mà chiếm đoạt. Về dân sự bà H6 yêu cầu V phải trả số tiền 33.384.000 đồng.
- Ông Nguyễn Xuân Đ1: Đầu tháng 8/2021, Võ Thị V nói dối với ông Nguyễn Xuân Đ1 cần tiền mua heo để bán lại cho Sư đoàn B1 và hỏi mượn tiền ông Đ1 để mua heo, tiền lợi nhuận bán heo V với ông Đ1 chia đôi thì ông Đ1 đồng ý cho V mượn tiền. Sau đó, ông Đ1 đã cho V mượn 02 lần với tổng số tiền 1.170.000.000 đồng. V viết giấy mượn ông Đ1 tổng số tiền là 1.170.000.000 đồng rồi đưa cho ông Đ1 giữ. Sau khi nhận tiền của ông Đ1, V không sử dụng kinh doanh, buôn bán heo như đã nói với ông Đ1 mà chiếm đoạt sử dụng mục đích cá nhân. Đến ngày 23/8/2021, V xác nhận việc nợ ông Đ1 số tiền 1.170.000.000 đồng, đồng thời V tiếp tục đưa ra thông tin không có thật là quá trình buôn bán heo lợi nhuận ông Đ1 được hưởng là 922.711.000 đồng nhưng chưa lấy được tiền ở Sư đoàn 2 nên V tiếp tục xác nhận nội dung là mượn ông Đ1 số tiền 922.711.000 đồng viết vào cuối tờ giấy mượn tiền ngày 23/8/2021 và V đưa giấy cho ông Đ1 giữ để làm tin. Tổng cộng Võ Thị V chiếm đoạt của ông Nguyễn Xuân Đ1 1.170.000.000 đồng. Về dân sự ông Đ1 yêu cầu V phải trả 1.170.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Thanh V1: Bà Nguyễn Thị Thanh V1 là dì ruột của Nguyễn Thế P (người sống chung với Võ Thị V như vợ chồng). Do quen biết nên ngày 11/4/2021 đến ngày 26/8/2021, Võ Thị V nói dối cần vốn mua hàng nhập cho bộ đội và đã mượn của bà Nguyễn Thị Thanh V1 số tiền 110.000.000 đồng và nói cần thịt heo để nhập cho các đơn vị bộ đội đi làm kinh tế nên thường xuyên mua thịt heo của bà Nguyễn Thị Thanh V1 nhưng không trả tiền mà xin nợ với tổng số tiền 100.000.000 đồng. Thực tế Võ Thị V không sử dụng tiền mua bán heo và nhập thịt heo cho các đơn vị bộ đội mà chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân với số tiền 210.000.000 đồng.
Khoảng đầu tháng 02/2022, Võ Thị V tiếp tục nói dối với bà Nguyễn Thị Thanh V1 là đang cần nhập gạo, thịt và các mặt hàng phục vụ bếp ăn (mắm, muối, mì tôm, trứng, dầu ăn,...) để bán cho bộ đội thuộc Trung đoàn 1 và Trung đoàn 38 thuộc Sư đoàn 2 đi làm kinh tế và sau khi nhập hàng thì các đơn vị bộ đội này sẽ thanh toán theo từng đợt, lợi nhuận sẽ chia đôi. Bà Nguyễn Thị Thanh V1 tin tưởng đã giao hàng hóa cho Võ Thị V thành nhiều đợt để bán cho bộ đội kiếm lời. Sau khi nhận hàng, Võ Thị V bán lại cho hai cửa hàng T8 và Tạp hóa Liễu Đ2 tại thị trấn P, huyện C lấy tiền, nhưng Võ Thị V không trả hết tiền hàng cho bà Nguyễn Thị Thanh V1 mà trả nhỏ giọt để bà Nguyễn Thị Thanh V1 tin tưởng Võ Thị V có hoạt động làm ăn để tiếp tục cung cấp hàng hóa. Trong quá trình nhập hàng cho Võ Thị V thì bà Nguyễn Thị Thanh V1 nghi ngờ nên đề nghị Võ Thị V chứng minh đang bán hàng cho bộ đội. Lúc này, Võ Thị V đã tự soạn thảo 02 (hai) bản Hợp đồng mua bán thực phẩm, trong đó một bản thể hiện Võ Thị V ký hợp đồng với một người tên là Nguyễn Văn T7 (công tác tại Trung đoàn 38 Sư đoàn 2) và một bản thể hiện Võ Thị V ký hợp đồng với một người Nguyễn Xuân S2 (Chức vụ Tài chính, công tác tại Trung đoàn BB1) sau đó nhờ Đới Quang Phức ký, ghi họ tên là Nguyễn Văn T7 và Nguyễn Xuân S2. Sau khi P2 ký, Võ Thị V đã đưa cho bà Nguyễn Thị Thanh V1 để bà Nguyễn Thị Thanh V1 tiếp tục tin tưởng cung cấp hàng theo yêu cầu của Võ Thị V. Đến ngày 29/4/2022, Võ Thị V đã chiếm đoạt tiền hàng đã mua của bà Nguyễn Thị Thanh V1 tổng số tiền là 563.690.000 đồng.
Tổng cộng, trong thời gian từ tháng 4/2021 đến tháng 4/2022, Võ Thị V đã lừa đảo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Thanh V1 tổng số tiền 773.690.000 đồng để tiêu xài, sử dụng vào mục đích cá nhân. Về dân sự bà Nguyễn Thị Thanh V1 yêu cầu V1 phải trả số tiền 773.690.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị P3: Khoảng cuối năm 2020, bà Nguyễn Thị P3 quen biết với Võ Thị V. V đã nhiều lần vay mượn tiền của bà Phước và đều thanh toán cho bà Phước đúng hạn như thỏa thuận. Trong tháng 8/2021 và tháng 9/2021, Võ Thị V không còn khả năng tài chính để trả nợ nhưng để có tiền sử dụng mục đích cá nhân, V đã nói dối với bà Nguyễn Thị P3 cần tiền để làm ăn, buôn bán và đề nghị bà Phước cho vay tiền, bà Phước tin tưởng vì thấy V có hoạt động mua bán heo nên đồng ý cho V mượn tiền. V đã vay mượn của bà Phước 04 lần với số tiền 116.500.000 đồng. Sau khi vay mượn, không sử dụng tiền vay của bà Phước để làm ăn, buôn bán mà chiếm đoạt để chi trả các khoản nợ cá nhân và tiêu xài. Về dân sự bà Phước yêu cầu V phải trả số tiền 116.500.000 đồng.
- Bà Đặng Thị M1: Bà Đặng Thị M1 bắt đầu quen biết với Võ Thị V từ cuối năm 2020, trong thời gian quen biết với bà M1 thì V nói với bà M1 là V đã trúng thầu cung cấp lương thực, thực phẩm cho Sư đoàn B1 đóng quân trên địa bàn thị xã A, tỉnh Gia Lai nên V đề nghị bà M1 cung cấp gạo, thịt, bí, bia, nước ngọt...để V nhập vào Sư đoàn 02 bán kiếm tiền lời. Thời gian này, sau khi mua hàng của bà M1 thì V vẫn thanh toán đầy đủ. Khoảng tháng 6/2021, Võ Thị V đã chấm dứt việc mua bán với Sư đoàn B1 nhưng V vẫn nói với bà M1 là đang cung cấp hàng hóa, lương thực, thực phẩm và mua heo để bán cho Sư đoàn 2 kiếm lời, bà M1 tin tưởng nên đi mua heo bán lại cho V và mua các mặt hàng (bia, thịt, gạo, mắm, muối, dầu ăn,...) bán lại cho V. Khi bán cho V thì V nói là bộ đội chưa thanh toán tiền, thanh toán thành từng đợt nên chưa có tiền trả cho bà M1, khi nào bộ đội trả tiền sẽ trả cho bà M1. Đến ngày 10/10/2021, bà Đặng Thị M1 đề nghị Võ Thị V xác nhận nợ và viết giấy Bản cam kết trả nợ cho bà M1 tổng số tiền 828.819.000 đồng. Sau khi nhận được lương thực, thực phẩm và heo từ bà M1, Võ Thị V đã bán cho các thương lái, người tiêu dùng (không rõ nhân thân, lai lịch), lấy tiền nhưng không trả cho bà M1 mà chiếm đoạt tổng số tiền 828.819.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân.
Quá trình điều tra bà M1 khai Võ Thị V chiếm đoạt của bà M1 tổng số tiền là 1.420.596.000 đồng và yêu cầu V phải trả số tiền này nhưng V không thừa nhận và bà M1 cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì khác để chứng minh. Cơ quan điều tra tiến hành cho đối chất giữa bà M1 và V nhưng không có kết quả.
- Bà Võ Thị L4: Võ Thị V quen biết với bà Võ Thị L4 từ khoảng năm 2020, quá trình quen biết Võ Thị V nhiều lần mượn tiền của bà Võ Thị L4 và thanh toán đầy đủ. Đến khoảng tháng 6/2021, Võ Thị V nói bà Võ Thị L4 cho V mượn tiền để lấy vốn mua bán heo nên bà L4 đồng ý cho V mượn tiền. V đã nhiều lần mượn tiền bà L4 với số tiền 99.000.000 đồng. Sau khi mượn, V không sử dụng mua bán heo mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân, không trả tiền cho bà L4. Như vậy, tổng số tiền Võ Thị V đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà L4 là 99.000.000 đồng. Về dân sự bà L4 yêu cầu V trả số tiền bị chiếm đoạt 99.000.000 đồng.
- Bà Trương Thị X1: Từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2021 Võ Thị V thuê bà Trương Thị X1 trông con cho V. Khoảng tháng 9/2021, do không có tiền tiêu xài, trả nợ cá nhân nên V hỏi mượn của bà X1 số tiền 20.000.000 đồng nói dối là để lấy tiền nhập hàng hóa, nhưng bà X1 nói không có tiền chỉ có 02 (hai) nhẫn vàng, loại vàng Y (vàng 9999), trọng lượng 02 chỉ thì V đề nghị bà X1 cho V mượn nhẫn vàng, nhưng bà X1 không đồng ý cho V mượn vàng mà nói V chở bà X1 đến tiệm vàng (hiện tại bà X1 không nhớ tên, địa chỉ). V đứng đợi ở ngoài cửa tiệm vàng, bà X1 đi vào tiệm V2 (hai) chỉ vàng được 8.000.000 đồng, tiệm vàng đã viết giấy xác nhận cầm đồ cho bà X1 và hẹn 01 (một) tháng sau chuộc lại. V hứa hẹn là một tháng sau sẽ chuộc lại vàng cho bà X1. Bà X1 đã đưa toàn bộ số tiền 8.000.000 đồng cho V. Thực tế, V không dùng số tiền này để nhập hàng hóa mà tiêu xài và trả nợ cá nhân. Ngoài ra V còn nói dối bà X1 cho mượn 01 điện thoại di động để đăng nhập phần mềm zalo lấy đơn hàng, sau khi bà X1 cho mượn, V đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Về dân sự bà X1 yêu cầu V phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt 8.000.000 đồng.
Như vậy, trong thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 5/2022, Võ Thị V dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền, hàng hóa của 27 cá nhân trên địa bàn thị xã A và huyện Đ với tổng giá trị là 4.539.231.000đồng. Khi phát hiện tài sản bị V chiếm đoạt, các bị hại đã làm đơn tố giác hành vi phạm tội của V. Đến ngày 01/3/2022 thì V bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và ngày 11/7/2022 thì V bị bắt tạm giam.
Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2023/HS-ST ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Thị V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Thị V 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2022.
Về phần dân sự:
Buộc chị Võ Thị H2 cùng liên đới với bị cáo Võ Thị V trả tiền cho các bị hại:
- Trả cho ông Đỗ Đình T số tiền: 224.290.000 đồng;
- Trả cho bà Hồ Thị Hồng L số tiền: 29.944.000 đồng;
- Trả cho bà Đoàn Thị Mỹ T1 số tiền 35.308.000 đồng;
Buộc bị cáo Võ Thị V trả lại tiền cho các bị hại:
- Trả cho bà Lê Thị Lệ S số tiền: 62.593.000 đồng;
- Trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền: 43.089.000 đồng;
- Trả cho bà Đặng Thị H3 số tiền: 33.480.000 đồng;
- Trả cho bà Hồ Thị L1 số tiền 61.700.000 đồng;
- Trả cho ông Trần Văn Q số tiền 115.650.000 đồng;
- Trả cho bà Phạm Thị Kim P1 số tiền 34.715.000 đồng;
- Trả cho ông Trương Mãnh L2 số tiền 63.544.000 đồng;
8
- Trả cho ông Phạm Đ số tiền 144.196.000 đồng;
- Trả cho bà Nguyễn Thị H4 số tiền 96.424.000 đồng;
- Trả cho bà Phạm Thị X số tiền 62.222.000 đồng;
- Trả cho ông Nguyễn Bá K số tiền 141.953.000 đồng;
- Trả cho ông Đoàn Ngọc H5 số tiền 63.700.000 đồng;
- Trả cho bà Bùi Thị Ngọc T5 số tiền 51.792.000 đồng;
- Trả cho bà Nguyễn Thị Trúc L3 số tiền 64.790.000 đồng;
- Trả cho bà Trần Thị Thu T6 số tiền 72.176.000 đồng;
- Trả cho bà Nguyễn Thị N1 số tiền 64.250.000 đồng;
- Trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc S1 số tiền 44.022.000 đồng;
- Trả cho bà Tô Thị H6 số tiền 33.384.000 đồng;
- Trả cho ông Nguyễn Xuân Đ1 số tiền 1.170.000.000 đồng;
- Trả cho bà Nguyễn Thị Thanh V1 số tiền 773.690.000 đồng;
- Trả cho bà Nguyễn Thị P3 số tiền 116.500.000 đồng;
- Trả cho bà Đặng Thị M1 số tiền 828.819.000 đồng;
- Trả cho bà Võ Thị L4 số tiền 99.000.000 đồng;
- Trả cho bà Trương Thị X1 số tiền 8.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/12/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị đề nghị sửa án về phần trách nhiệm dân sự buộc bị cáo V1 và chị H2 liên đới trả cho 03 bị hại Đỗ Đình T, Hồ Thị Hồng L và Đoàn Thị Mỹ T1.
Ngày 23/11/2023, bị cáo Võ Thị V có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà nẵng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị V và sửa bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo V trả cho bị hại Đỗ Đình T 224.290.000 đồng và chị H2 65.252.000 đồng; buộc chị H2 trả cho Hồ Thị Hồng L 29.944.000 đồng và Đoàn Thị Mỹ T1 35.308.000 đồng.
Luật sư đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo V, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
9
[1] Lời khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản đối chất, kết luận giám định về chữ ký, chữ viết và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở kết luận:
Từ cuối tháng 01/2021 đến đầu tháng 05/2022, bị cáo Võ Thị V đã dùng thủ đoạn gian dối là nói với các bị hại bán heo, bán hàng hóa cho bị cáo, nói bị hại hợp tác làm ăn, hùn tiền hoặc cho bị cáo mượn tiền để bị cáo nhập heo, nhập hàng hóa cho đơn vị Quân đội lấy lãi. Sau khi nhận được heo, hàng hóa thì bị cáo đem đi nơi khác bán, thậm chí bán giá thấp hơn giá thỏa thuận mua để lấy tiền trả một phần cho các bị hại, phần còn lại để tiêu xài. Khi bị đòi nợ, bị cáo nói dối các bị hại là đơn vị Quân đội chưa thanh toán nên bị cáo chưa có tiền trả cho các bị hại. Bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại trú tại huyện Đ và thị xã A số tiền 4.539.231.000 đồng.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2023/HS-ST ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã xét xử bị cáo Võ Thị V tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Thị V, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, chiếm đoạt tiền của nhiều người với số tiền chiếm đoạt lớn, đa số các bị hại là nông dân, người lao động phổ thông, người nghèo lấy chăn nuôi, buôn bán làm nguồn sống chính nhưng bị cáo chiếm đoạt nên dẫn đến nợ nần không trả được, đã khó khăn càng thêm khó khăn, hành vi của bị cáo còn gây dư luận xấu, bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an. Do đó, cần phải xét xử bị cáo hình phạt tù nghiêm khắc, trong khung hình phạt để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác.
Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 18 năm tù là phù hợp, có tác dụng răn đe và ngăn ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
10
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị sửa bản án về phần trách nhiệm dân sự buộc bị cáo V trả cho bị hại Đỗ Đình T 224.290.000 đồng và chị H2 65.252.000 đồng; buộc chị H2 trả cho Hồ Thị Hồng L 29.944.000 đồng và Đoàn Thị Mỹ T1 35.308.000 đồng; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Ông Đỗ Đình T yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định pháp luật. Xét thấy theo giấy nợ thì ghi V nợ bà H7 (vợ ông T) còn H2 ký với tư cách là làm chứng, quá trình điều tra không chứng minh được chị H2 đồng phạm với bị cáo V lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại, trong khi đó chị H2 là người làm công do bị cáo V thuê, tiền bán heo bị cáo V thụ hưởng nên yêu cầu của ông T là không có cơ sở không phù hợp pháp luật dân sự nên không chấp nhận,
Còn chị Hồ Thị Hồng L và chị Đoàn Thị Mỹ T1 căn cứ giấy nợ do chị H2 viết và ký tên yêu cầu chị H2 phải có nghĩa vụ trả cho hai chị số tiền mua heo còn nợ; chị H2 thừa nhận viết giấy nợ nhưng cho rằng mua hộ cho V nên V trả, bị cáo V đồng ý trả cho chị L, chị T1 nhưng chị L, chị T1 không đồng ý mà yêu cầu chị H2 trả. Xét thấy theo giấy nợ thì yêu cầu của chị L, chị T1 là có cơ sở, phù hợp pháp luật dân sự nên chấp nhận.
Do đó, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị sửa bản án về phần trách nhiệm dân sự.
[4] Về án phí: Theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Võ Thị V phải chịu 116.957.789 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; chị H2 phải chịu 3.262.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 và Điều 356, 357 của Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị V; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng sửa bản án về phần trách nhiệm dân sự.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Thị V 18 (mười tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2022.
11
- Về phần dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự:
- Buộc bị cáo Võ Thị V phải có nghĩa vụ trả cho:
- - Ông Đỗ Đình T 224.290.000₫ (Hai trăm hai mươi bốn triệu hai trăm chín mươi nghìn) đồng;
- - Chị Võ Thị H2 65.252.000₫ (Sáu mươi năm triệu hai trăm năm mươi hai nghìn) đồng.
- Buộc bị cáo chị Võ Thị H2 phải có nghĩa vụ trả cho:
- - Chị Hồ Thị Hồng L 29.944.000 (Hai mươi chín triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng;
- - Chị Đoàn Thị Mỹ T1 35.308.000 (Ba mươi lăm triệu ba trăm lẻ tám nghìn) đồng.
- Buộc bị cáo Võ Thị V phải có nghĩa vụ trả cho:
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Bị cáo Võ Thị V phải chịu 116.957.789 (Một trăm hai mươi sáu triệu, bảy trăm hai mươi sáu nghìn, bảy trăm tám mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- - Chị Võ Thị H2 phải chịu 3.262.600 (Ba triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn sáu trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Văn Thường |
12
Bản án số 176/2024/HS-PT ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 176/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 và Điều 356, 357 của Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị V; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng sửa bản án về phần trách nhiệm dân sự. 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Võ Thị V 18 (mười tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2022.
