|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 176/2024/HNGĐ-ST Ngày 02-12-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung;
- Bà Trần Thị Ngọc .
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 448/2024/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 490/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1985; thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1984; thường trú: 6D/25A Tổ Dân phố B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 9 năm 2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phạm Thị Thúy H trình bày:
Bà và ông Vũ Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận kết hôn số 124, quyển số 01/2008 do UBND phường T cấp ngày 05/11/2008. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn vợ chồng bà sinh sống và làm việc tại thành phố B một thời gian thì chuyển đến sinh sống tại thành phố D, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Hai vợ chồng bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Vì vậy, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, hai vợ chồng đã có thời gian ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên Vũ Nhật T1, sinh ngày 23/7/2009. Sau khi ly hôn bà đồng ý giao con chung cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Vũ Văn T: Ông T đã được toà án triệu tập để làm việc, tham gia hoà giải ngày 30/10/2024; tham gia phiên toà vào các ngày 14/11 và 02/12/2024 nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng.
- Tại Biên bản xác minh ngày 14/10/2024 Hội Liên hiệp phụ nữ phường A cung cấp thông tin như sau: Hội liên hiệp phụ nữ phường không nhận được đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa bà Phạm Thị Thúy H với ông Vũ Văn T, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai ông, bà do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà H, ông T.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Sự chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt các đương sự.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thúy H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Vũ Văn T đã được tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 14/11 và 02/12/2024 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bà H, ông T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thúy H và ông Vũ Văn T là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 124, quyển số 01/2008 do UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/11/2008, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[3] Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.
[4] Theo lời trình bày của nguyên đơn nhận thấy quá trình chung sống giữa bà H, ông T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã có thời gian ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau và không còn cùng nhau chăm sóc con cái. Tòa án đã triệu tập ông T lên tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T bỏ mặc, không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng của bà H, ông T đã thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 01 con chung tên Vũ Nhật T1, sinh ngày 23/7/2009. Quá trình tố tụng, bà H đồng ý giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng vì từ khi vợ chồng ly thân cháu T1 ở cùng với bố. Xét, việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc phải đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho con, nhận thấy cháu T1 là con trai đang trong độ tuổi trưởng thành cần sự chia sẻ, chăm sóc của người bố, bản thân cháu cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với bố để ổn định việc học tập và sinh sống. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử sẽ giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thúy H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội hóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thúy H được ly hôn với ông Vũ văn T (theo giấy chứng nhận kết hôn số 124, quyển số 01/2008 do UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/11/2008).
-
Về con chung: Bà Phạm Thị Thúy H giao con chung tên Vũ Nhật T1, sinh ngày 23/7/2009 cho ông Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn bà Phạm Thị Thúy H phải tạo điều kiện cho ông Vũ Văn T trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
Nghĩa vụ cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng: Bà Phạm Thị Thúy H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng); thời hạn cấp dưỡng: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành..
-
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thúy H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001558 ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, bà Phạm Thị Thúy H còn phải nộp số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoa |
Bản án số 176/2024/HNGĐ-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 176/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị Thúy H yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Văn Tr
