TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:176/2024/HNGĐ-PT. Ngày: 11/12/2024. V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hồng; bà Nguyễn Bích Hạnh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11/12/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
Mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân & Gia đình thụ lý số 159/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05/11/2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn.”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 318/2024/QĐXX-PT ngày 19/11/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 173/202/QĐ-HPT ngày 29/11/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1993; ĐKNKTT: Số nhà E, tổ dân phố T, thị trấn T, tỉnh Thái Bình. Nơi ở hiện nay: Số nhà D, ngõ B T, quận L, Thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1988; ĐKNKTT: Số A, ngách B Khu Y, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh H1: Luật sư Lê H2, Công ty L – Đoàn luật sư thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung:
* Nguyên đơn là chị Phạm Thị Thu H trình bày: chị và anh Trần Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Thành phố Hà Nội vào ngày 23/12/2020. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong việc nuôi con và trong kinh tế gia đình, từ đó thường xuyên xảy ra cãi nhau. Từ tháng 4/2023, chị bỏ ra ngoài sống, không ở cùng nhà anh H1 nữa. Vợ, chồng cũng ly thân từ đó cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh H1 để chị còn ổn định cuộc sống riêng của mình.
- Về con chung: vợ, chồng có 01 con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 20/6/2021, hiện cháu đang ở với anh H1. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung. Vì chị có đủ điều kiện để nuôi con: hiện chị đang làm kinh doanh tự do, thu nhập khoảng 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng/tháng; ngoài ra chị đang ở cùng với bố, mẹ ở Thái Bình và ông, bà hỗ trợ chị nuôi con; chị cũng đã có Hợp đồng thuê nhà ở Hà Nội, thời hạn 05 năm.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị và anh H1 không có tài sản chung, nợ chung do đó không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Trần Văn H1 trình bày: anh thừa nhận thời gian, điều kiện kết hôn đúng như chị H đã trình bầy. Anh xác định quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, chị H đã bỏ nhà đi ở chỗ khác. Trước yêu cầu ly hôn của chị H, anh đồng ý ly hôn. Vì anh cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm, hai bên đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, kinh tế độc lập.
- Về con chung: anh và chị H có có 01 con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 20/6/2021. Hiện cháu đang ở với anh cùng bố, mẹ anh, điều kiện rất tốt và anh không đồng ý để chị H nuôi con. Công việc của anh hiện đang làm ở Công ty TNHH P ở phường M, quận H với mức lương 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng/tháng, đủ đảm bảo để nuôi con; thời gian làm việc giờ hành chính, thỉnh thoảng mới làm tăng ca. Ngoài ra, anh còn có sổ tiết kiệm gửi ngân hàng.
- Về tài sản chung, nợ chung: anh và chị H không có tài sản chung, nợ chung do đó không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Thu H đối với anh Trần Văn H1.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự: chị Phạm Thị Thu H và anh Trần Văn H1 thuận tình ly hôn.
2. Về con chung: xác nhận chị Phạm Thị Thu H và anh Trần Văn H1 có 01 con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 20/6/2021. Giao con chung cho chị Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn H1 cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng)/tháng cho chị Phạm Thị Thu H.
Việc giao nuôi con và cấp dưỡng nuôi con kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung và công nợ chung: các đương sự xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xét, giải quyết.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Ngày 09/9/2024, anh Trần Văn H1 kháng cáo một phần của bản án sơ thẩm về việc không đồng ý giao con cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Chị Phạm Thị Thu H không rút yêu cầu khởi kiện và không đồng ý với kháng cáo của anh H1. Bởi vì, khi có mâu thuẫn với anh H1, chị đã trao đổi và được anh H1 đồng ý về việc chị ra ngoài ổn định và 02 tháng sau sẽ quay lại đón con. Nhưng sau khi ổn định cuộc sống chị quay lại đón con thì anh H1 và gia đình không tạo điều kiện cho chị đón con cũng như chăm con. Chị chỉ được gặp con ở trường và không được đón con về chăm sóc. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
- Anh Trần Văn H1 không rút yêu cầu kháng cáo. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho anh được trực tiếp nuôi cháu Trần Hải Đ vì từ khi chị H bỏ nhà đi cháu Đ vẫn ở với anh và gia đình. Cháu đang được anh và gia đình chăm sóc tốt.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh H1 trình bày: Về điều kiện để chăm sóc con anh H1 có đủ điều kiện về kinh tế, hiện nay cháu Đ1 đang ở ổn định với anh H1 và gia đình anh H1, cháu phát triển khỏe mạnh. Hiện nay cháu đang học ở trường công thuộc quận H thuộc khu vực sinh sống và làm việc của anh H1. Do vậy anh H1 có thời gian đưa đón con đi học và chăm sóc con ngoài giờ vì anh H1 làm giờ hành chính. Chị H hiện nay vẫn đang đi thuê nhà, nơi ở không ổn định, chủ yếu việc làm ăn kinh tế của chị ở Thái Bình. Do vậy, để tạo điều kiện ổn định tốt nhất cho cháu Đ đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của anh H1 sửa bản án sơ thẩm theo hướng giao cháu Đ cho anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh H1 trong thời hạn, đã nộp tạm ứng án phí nên được chấp nhận.
Thẩm phán và hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật; Quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo thực hiện trước và tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét kháng cáo của anh H1 đề nghị được nuôi con chung là cháu Trần Hải Đ, hiện cháu Đ đang sống cùng anh H1 và bố mẹ anh H1 trong điều kiện rất tốt. Nhận thấy việc chị H và anh H1 đều có nguyện vọng nuôi con là chính đáng, tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi phải xem xét đến quyền lợi của con. Xét thấy anh chị có điều kiện sống như nhau, có thu nhập ổn định nên đều đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, hiện nay cháu Đ còn nhỏ, mới hơn 03 tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Mặc dù, do mâu thuẫn vợ chồng nên chị H bỏ nhà anh H1 đi để con lại cho anh H1 nuôi hơn 01 năm, nhưng cả anh H1 và chị H đều xác định có việc trước khi chị H bỏ nhà đi thì anh chị có thỏa thuận 02 tháng sau chị sẽ quay lại đón con, điều đó thể hiện sự thống nhất của vợ chồng về việc sẽ giao con cho chị H nuôi. Mặt khác, chị H vẫn cũng anh H1 đóng tiền học cho cháu Đ thể hiện chị H là người mẹ có trách nhiệm với con. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giao con chung cho chị H nuôi là phù hợp với quy định của pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại công khai tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[I]. Về Tố tụng:
Bị đơn anh Trần Văn H1 có đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn nên kháng cáo là hợp lệ.
Anh Trần Văn H1 đăng ký nơi thường trú tại phường T, quận H, thành phố Hà Nội nên Toà án nhân dân quận Hoàng Mai thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[II]. Xét nội dung kháng cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, anh H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin nuôi cháu Trần Hải Đ. Chị H không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của anh H1.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của chị H, anh H1 là chính đáng, thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của người làm bố, làm mẹ đối với con. Về điều kiện để đảm bảo nuôi con của anh H1 và chị H đều đảm bảo. Vì mâu thuẫn với anh H1 nên chị H chuyển ra khỏi nhà để ổn định cuộc sống, trước khi đi chị H và anh H1 có thỏa thuận sau 02 tháng chị H sẽ quay lại đón con. Tuy nhiên, sau khi chị H ổn định cuộc sống, quay trở lại đón con thì anh H1 và gia đình không tạo điều kiện cho chị, chị chỉ được gặp con ở trường và không được đón con về chăm sóc. Hàng tháng, chị H và anh H1 thay phiên nhau đóng tiền học cho cháu Đ thể hiện việc chị H luôn mong muốn được chăm sóc cháu Đ, hơn nữa cháu Trần Hải Đ hiện còn nhỏ, mới hơn 3 tuổi nên rất cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ, anh H1 cũng có ý kiến nếu không được nuôi con anh tự nguyện cấp dưỡng cho chị H 4.000.000 (bốn triệu) đồng/ tháng để chăm sóc cháu Đ. Do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con nên Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu Trần Hải Đ cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp nên đơn kháng cáo của anh H1 không có căn cứ để chấp nhận.
[III]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của anh H1 không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Từ những nhận định trên;
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 308 và Điều 148; Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH
1. Không chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn H1, giữ nguyên nội dung của bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự: Chị Phạm Thị Thu H và anh Trần Văn H1 thuận tình ly hôn
Về con chung: xác nhận chị Phạm Thị Thu H và anh Trần Văn H1 có 01 con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 20/6/2021. Giao con chung cho chị Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn H1 cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng)/tháng cho chị Phạm Thị Thu H.
Việc giao nuôi con và cấp dưỡng nuôi con kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Anh H1 được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật, không ai được ngăn cản.
2. Về án phí phúc thẩm:
Anh Trần Văn H1 phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0033660 ngày 18/9/2024 tại Chi cục thi hành dân sự quận H. Xác nhận anh H1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 176/2024/HNGĐ-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 176/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thu H - Trần Văn H
