TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 176/2024/DS-PT
Ngày: 12-4-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hà Chí Quốc.
Các Thẩm phán:
- Ông Hồ Văn Cường;
- Ông Trần Thanh Tòng.
Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 536/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2023/DS-ST, ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 479/2024/QĐ-PT, ngày 28 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
1/ Anh Trần Văn T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
2/ Anh Nguyễn Chí T1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của anh T, anh T1: Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1962; nơi cư trú: Tổ D, ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền, Hợp đồng ủy quyền ký cùng ngày 08-02-2023. Có mặt.
* Bị đơn: Anh Ngô Văn T2, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ F, ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Ngô Văn H, sinh năm 1966 (có mặt) và bà Chu Thị H1, sinh năm 1967 (vắng mặt);
Nơi ĐKHKTT: Tổ F, ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Nơi tạm trú: Ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Chị Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ F, ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
Phòng C tỉnh Tây Ninh; địa chỉ trụ sở: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh V – Trưởng phòng. Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh V: Ông Nguyễn Chí T3 – Công chứng viên, theo Văn bản ủy quyền ngày 09-5-2023.
Ngân hàng TMCP C1; địa chỉ: Số A, đường T, quận H, Hà Nội. Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng: Ông Trần Minh B – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện hợp pháp của ông Trần Minh B: ông Dương Công T4, chức vụ : Phó Giám đốc. Có mặt.
* Người kháng cáo: Ông Ngô Văn H – là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Văn T và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
* Đối với tiền vay: Vào ngày 26-9-2021, anh T2 vay của anh T số tiền 700.000.000 đồng, vay 01 lần. Khi vay có làm giấy cho vay tiền do anh T2 viết nội dung, nhận tiền và ký tên. Mục đích anh T2 vay để mua bán mủ cao su. Thỏa thuận lãi suất bằng miệng là 3%/tháng. Không hẹn thời gian trả trong giấy cho vay tiền, chỉ thỏa thuận miệng với nhau khi nào anh T cần tiền sẽ báo trước cho anh T2 02 tháng. Vay không thế chấp tài sản. Từ ngày vay đến nay, anh T2 chưa trả cho anh T số tiền nào bao gồm tiền lãi và tiền gốc. Anh T đã nhiều lần đến nhà yêu cầu anh T2 trả nợ và yêu cầu anh T2 giao đất cấn trừ nợ nhưng anh T2 nói giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp vay vốn Ngân hàng, khi nào trả nợ Ngân hàng xong sẽ tính tiếp. Việc các bên thỏa thuận không làm giấy tờ. Ngoài số tiền vay này, anh T2 không còn vay số tiền nào khác của anh T.
Nay anh T yêu cầu anh T2 trả số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 26-9-2021 đến khi giải quyết xong vụ án. Ngoài ra, anh T không yêu cầu chị D (vợ anh T2) cùng có nghĩa vụ trả nợ.
* Đối với yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho QSD đất giữa anh T2 với ông H, bà H1 vô hiệu: Anh T2 vay tiền của anh T vào ngày 26-9-2021. Anh T đã nhiều lần yêu cầu anh T2 trả nợ nhưng anh T2 hẹn hết lần này đến lần khác. Đến ngày 04-4-2022, anh T2 ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, được Phòng C tỉnh Tây Ninh công chứng ngày 04-4-2022 và được chỉnh lý tại mục những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T7 ngày 27-4-2022 cho cha mẹ ruột (ông H, bà H1) đứng tên. Việc anh T2 ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho cha mẹ là có hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ trong khi đang nợ tiền vay của anh T2 đến hẹn chưa trả và anh T2 không còn bất kỳ tài sản nào có giá trị đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Trong suốt thời gian nợ tiền, anh T2 cũng không có bất kỳ động thái nào thương lượng yêu cầu anh T nhận chuyển nhượng đất để khấu trừ nợ hay thông báo cho anh T biết việc anh T2 tặng cho quyền sử dụng đất cho cha mẹ. Như vậy, chứng tỏ anh T2 cố tình không trả nợ cho anh T bằng cách lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho cha mẹ.
* Ngày 27-3-2023, bà M có đơn xin rút 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 7.793,1m², thuộc thửa số 161, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1, được Phòng C tỉnh Tây Ninh công chứng ngày 04-4-2022 vô hiệu.
Nay anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1, được Phòng C tỉnh Tây Ninh công chứng ngày 04-4-2022 vô hiệu để anh T2 có tài sản đảm bảo thi hành án cho anh T. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Chí T1 và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Khoảng tháng 8-2022, anh T1 khởi kiện yêu cầu anh T2 trả số tiền vay 460.000.000 đồng và tiền lãi; đến ngày 08-9-2022, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 51/2022/QÐST-DS, theo đó anh T2 có nghĩa vụ trả cho anh T1 số tiền vay 460.000.000 đồng và tiền lãi 19.090.000 đồng, tổng cộng là 479.090.000 đồng.
Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, anh T1 có đơn yêu cầu thi hành án. Tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, anh T2 khai không còn bất kỳ tài sản nào có giá trị để đảm bảo thi hành án và theo kết quả xác minh điều kiện thi hành án thì tài sản duy nhất của anh T2 là Quyền sử dụng đất diện tích 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh nhưng anh T2 đã tặng cho cha mẹ ruột là ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1 vào ngày 04-4-2022, được chỉnh lý tại mục những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T7 ngày 27-4-2022.
Anh T1 cho rằng việc anh T2 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho cha mẹ ruột là giả tạo, nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ vì ngoài diện tích đất trên, anh T2 không còn tài sản nào khác để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho anh T1. Trong khi số tiền trên anh T1 cho anh T2 vay từ năm 2021, anh T2 chưa thanh toán nợ cho anh T1. Trong suốt thời gian nợ tiền, anh T2 cũng không có bất kỳ động thái nào thương lượng yêu cầu anh T1 nhận chuyển nhượng đất để khấu trừ nợ hay thông báo cho anh T1 biết việc anh T2 tặng cho quyền sử dụng đất cho cha mẹ. Như vậy, chứng tỏ anh T2 đã cố tình không trả nợ cho anh T1 bằng cách lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho cha mẹ ruột.
* Ngày 27-3-2023, bà M có đơn xin rút 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 7.793,1m², thuộc thửa số 161, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1, được Phòng C tỉnh Tây Ninh công chứng ngày 04-4-2022 vô hiệu.
Nay anh T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1, được Phòng C tỉnh Tây Ninh công chứng, chứng thực ngày 04-4-2022 vô hiệu để anh T2 có tài sản đảm bảo thi hành án cho anh T1. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Ngô Văn T2 trình bày:
* Đối với yêu cầu khởi kiện tiền vay của anh Trần Văn T:
Trong khoảng tháng 9-2021, anh có vay của anh T 02 lần tổng số tiền 700.000.000 đồng. Sau đó đến ngày 26-9-2021 (DL) mới viết giấy vay tiền. Sau khi Tòa án cho xem qua giấy vay tiền thì anh xác định nội dung và chữ ký là của anh. Thỏa thuận lãi suất bằng miệng là 10%/tháng. Vay không thế chấp tài sản. Mục đích vay để kinh doanh mua mủ cao su. Các bên không hẹn thời gian trả nợ, khi nào anh T cần thì thông báo cho anh biết trước để trả nợ. Từ ngày vay, anh đã trả cho anh T tiền gốc và lãi thông qua chuyển khoản vào tài khoản của chị Nguyễn Thị Thiên T5 (vợ anh T); chuyển khoản vào tài khoản tên Lê Thị T6 (bạn anh T) và đóng lãi bằng tiền mặt số tiền 45.000.000 đồng, thời gian trả không nhớ.
Nay anh T2 yêu cầu khấu trừ tiền nợ gốc và tiền lãi đã trả cho anh T, còn nợ lại bao nhiêu thì anh sẽ đồng ý trả cho anh T. Tuy nhiên, anh T2 không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho số tiền lãi và gốc đã trả cho anh T. Anh T2 không yêu cầu chị D (vợ) cùng có nghĩa vụ trả nợ.
* Đối với yêu cầu khởi kiện của anh T, anh T5 về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa anh và ông H, bà H1 vô hiệu:
Vào ngày 04-4-2022, anh có làm thủ tục tặng cho cha, mẹ ruột là ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 diện tích đất 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, theo giấy CNQSD đất số CV 862443, số vào sổ cấp GCN: CS04319, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 29-9-2020. Hiện tại anh không còn bất kỳ tài sản nào có giá trị để trả nợ cho anh T5, anh T.
Anh T và anh T5 cho rằng anh tặng cho quyền sử dụng đất cho cha mẹ nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ là hoàn toàn không đúng. Bởi vì:
- Nguồn gốc đất này trước đây là của ông H, bà H1 (cha mẹ ruột). Sau đó, năm 2019, ông H, bà Hà t cho anh phần diện tích đất nêu trên bao gồm cao su trên đất. Việc tặng cho riêng nên chị D (vợ anh) không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh xác định anh chỉ mượn đất của cha mẹ để kinh doanh dự án trồng nấm và điện năng lượng mặt trời, không phải cha mẹ tặng cho luôn. Việc tặng cho không có điều kiện trong hợp đồng, chỉ thỏa thuận với nhau giữa cha, mẹ và anh.
- Tuy nhiên, sau khi tặng cho đất thì anh không kinh doanh dự án điện năng lượng mặt trời và trồng nấm vì không thỏa thuận được về giá điện với Nhà nước và dịch covid. Anh không đầu tư bất kỳ tài sản gì trên đất. Nhưng do cần vốn kinh doanh nên vào ngày 14-10-2020, anh có vay của Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh T8 – Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng N) số tiền 1.400.000.000 đồng, thế chấp 03 (ba) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay này, bao gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên. Thời hạn vay 12 tháng. Mục đích vay để kinh doanh mua bán mủ cao su. Đến ngày 18-10-2021, anh tiếp tục đáo hạn thời hạn vay tối đa không quá 05 tháng, đến ngày 19-03-2022 thì hết hạn. Do vậy, khi đến hạn thanh toán, anh chưa có tiền trả nợ cho Ngân hàng nên cha mẹ phải chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị X diện tích đất khoảng 5,2ha do cha mẹ đứng tên để trả nợ thay cho anh đối với khoản vay 1.400.000.000 đồng tại Ngân hàng N – N. Chính vì cha, mẹ đã bỏ tiền ra cho anh trả nợ Ngân hàng và đất này do cha mẹ cho anh mượn để kinh doanh nhưng anh không kinh doanh nên anh trả lại đất cho cha mẹ thông qua hình thức tặng cho quyền sử dụng đất.
- Anh không thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T, anh T5 để đảm bảo khoản vay của anh T, anh T5 nên không yêu cầu anh T, anh T5 nhận chuyển nhượng đất cấn trừ nợ cũng như không thông báo cho anh T, anh T5 biết việc anh làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho cha, mẹ. Khi làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất thì đất không có ai tranh chấp.
Do không có hành vi tẩu tán tài sản nên anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T, anh Nguyễn Chí T1.
Trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì anh không yêu cầu giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu vì các bên không có giao nhận bất kỳ tài sản gì. Đối với số tiền cha mẹ bỏ ra trả nợ Ngân hàng thay cho anh, nếu cha mẹ có tranh chấp sẽ khởi kiện anh giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1 trình bày:
Vợ chồng ông bà là cha mẹ ruột của anh Ngô Văn T2. Nguồn gốc đất này do ông bà khai phá từ năm 1991 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm ông bà làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho anh T2 thì trên đất có trồng cao su. Mục đích tặng cho để anh T2 mượn đất kinh doanh trồng nấm và điện năng lượng mặt trời. Hiện tại, diện tích đất này do ông bà đang quản lý, sử dụng.
Đến ngày 12-2-2022, ông bà thấy anh T2 kinh doanh thất bại và đến hạn trả nợ Ngân hàng nên ông bà phải chuyển nhượng diện tích đất 52.153,7m², tọa lạc ấp G, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh do ông bà đứng tên cho bà Hoàng Thị X để có tiền trả nợ thay cho anh T2 đối với khoản vay 1.400.000.000 đồng tại Ngân hàng N – N. Do ông bà chỉ cho mượn đất kinh doanh và phải bỏ tiền ra trả nợ thay anh T2 nên vợ chồng ông bà yêu cầu anh T2 làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất nhằm mục đích trả lại đất cho vợ chồng ông bà.
Sau khi ông H, bà H1 được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vào khoảng tháng 4 năm 2022, ông H, bà H1 ký Hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng TMCP C1 – Chi nhánh H3 với số tiền 5.000.000.000 đồng. Thời hạn vay 12 tháng nhưng 06 tháng đáo hạn 01 lần. Mục đích vay để trả nợ cho bà Chu Thị H2 (em gái) số tiền vay 1.500.000.000 đồng, số tiền còn lại ông H, bà H1 vay để mua đất ở tỉnh Đồng Nai. Khi vay, ông H, bà H1 có thế chấp nhiều tài sản do ông bà đứng tên để đảm bảo cho khoản vay 5.000.000.000 đồng. Trong đó bao gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 862443, số vào sổ cấp GCN: CS04319 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 29-9-2020 cho anh T2 đứng tên, chỉnh lý tại mục thay đổi sau khi cấp giấy ngày 27-4-2022 cho ông bà đứng tên, để đảm bảo cho khoản vay 540.000.000 đồng trong tổng số tiền vay 5.000.000.000 đồng. Hiện nay, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên vẫn thế chấp đảm bảo cho khoản vay 540.000.000 đồng. Thời hạn trả nợ tiếp theo vào ngày 28-12-2023. Khi thế chấp vay vốn tại Ngân hàng TMCP C1 – Chi nhánh H3 thì đất này không có ai tranh chấp và không bị kê biên.
Nay ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh T, anh T1 vì đất này là của ông bà. Trường hợp Tòa án tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa anh T2 và ông bà vô hiệu thì ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu. Đối với số tiền 1.400.000.000 đồng vợ chồng ông bà đã chuyển nhượng đất cho bà X để trả nợ cho Ngân hàng N thì nếu có tranh chấp ông bà sẽ khởi kiện anh T2 bằng vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP C1 trình bày:
Vợ chồng ông H, bà H1 có vay vốn tại Ngân hàng từ khoảng tháng 4 năm 2022,06 tháng đáo hạn 01 lần và ký lại Hợp đồng. Và hiện tại vợ chồng ông H, bà H1 đang vay vốn tại Ngân hàng TMCP C1 theo Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2022-HĐCVHM/NHCT662 ngày 26-12-2022 và 01 văn bản sửa đổi, bổ sung ngày 28-12-2022 kèm theo với số tiền vay 4.500.000.000 đồng. Thời hạn vay 12 tháng, đến ngày 26-12-2023. Mục đích vay kinh doanh mua bán mủ cao su.
- Lãi suất: 10%/năm, khi lãi suất cho vay trên thị trường tín dụng biến động (tăng hoặc giảm) thì Ngân hàng tự động điều chỉnh tăng giảm bằng lãi suất cho vay của Ngân hàng, tại thời điểm điều chỉnh mỗi tháng 01 lần và theo như thỏa thuận trong hợp đồng có quy định cụ thể chi tiết từng thời điểm tính lãi.
+ Lãi suất nợ quá hạn: 150% so với lãi suất vay đã thỏa thuận.
+ Phương thức trả lãi nợ vay theo đình kỳ 01 tháng/1 lần vào ngày 07 tây.
- Phương thức trả nợ gốc: 06 tháng trả 01 lần. Ngày trả nợ cuối cùng là 28-12-2023.
- Phương thức giải ngân: Chuyển khoản tiền vào tài khoản của ông Ngô Văn H theo số tài khoản: 107875509962, Ngân hàng TMCP C1 – chi nhánh H3.
Trong hạn vay, vợ chồng ông H, bà H1 vẫn đóng lãi đầy đủ cho Ngân hàng. Đến nay không có vi phạm gì. Khi vay vợ chồng ông H và bà H1 có thế chấp nhiều tài sản để đảm bảo cho khoản vay 4.500.000.000 đồng nhưng đối với diện tích đất đang tranh chấp thì thế chấp đảm bảo cho khoản vay 540.000.000 đồng trong tổng số tiền vay 4.500.000.000 đồng, cụ thể:
- Quyền sử dụng đất diện tích 10.000m², tờ bản đồ số 28, thửa đất số 160, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV862443, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 04319 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 29-9-2020, cập nhật biến động ngày 27-4-2022 cho ông H, bà H1 đứng tên đăng ký sử dụng theo Hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số 22025268/2022/1.01a.02/HĐBĐ/NHCT662 ngày 22-12-2022 đảm bảo cho khoản vay 540.000.000 đồng. Khi cho vay thì Ngân hàng có tiến hành thẩm định tài sản thế chấp giữa vợ chồng ông H, bà H1 với Ngân hàng. Ngân hàng cũng kiểm tra thông tin đúng thửa đất, tờ bản đồ và diện tích đất ông H, bà H1 được cấp giấy CNQSD đất. Tài sản thế chấp là đất trồng cây cao su.
Nay Ngân hàng TMCP C1 có ý kiến như sau:
+ Đối với Hợp đồng cho vay có hạn mức ký kết giữa Ngân hàng và vợ chồng ông H, bà H1 nêu trên thì Ngân hàng xác định Hợp đồng cho vay có hạn mức chưa đến hạn thanh toán, vợ chồng ông H, bà H1 vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, không xảy ra vi phạm nên Ngân hàng xác định không tranh chấp và không khởi kiện liên quan đến Hợp đồng cho vay có hạn mức. Trường hợp sau này các bên có tranh chấp thì Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
+ Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng xác định việc cho vay và thế chấp thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Ngân hàng là người thứ ba ngay tình, khi cho vay cũng không có bất kỳ cá nhân hay cơ quan nào tranh chấp hay đất bị kê biên tài sản nên đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Trường hợp vợ chồng ông H, bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã ký kết theo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp thì Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác để giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kim D trình bày như sau:
Chị là vợ của anh T2. Việc cha, mẹ ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho anh T2 đối với diện tích đất nêu trên là tặng cho riêng. Đây không phải là tài sản chung của vợ chồng nên sau khi cha mẹ bỏ tiền ra để trả nợ cho khoản vay tại Ngân hàng N thì chị không có ý kiến hay tranh chấp gì. Đối với số tiền anh T2 vay của anh T, chị không liên quan nên không có nghĩa vụ cùng anh T2 trả số tiền vay trên cho anh T.
Nay anh T, anh T1 khởi kiện anh T2 thì chị không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thiên T5 trình bày:
Chị là vợ của anh T. Việc anh T cho anh T2 vay số tiền 700.000.000 đồng thì chị không biết. Chị không quen biết gì với anh T2 và cũng không nhận bất kỳ số tiền nào từ anh T2 chuyển khoản vào tài khoản do chị đứng tên như anh T2 trình bày.
Nay chị không tranh chấp gì liên quan đến số tiền anh T cho anh T2 vay nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Chí T3 là người đại diện hợp pháp của Phòng C tỉnh Tây Ninh trình bày như sau:
Vào ngày 04-4-2022, Phòng C tỉnh Tây Ninh có công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2918, quyển số: 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1. Tại trụ sở Phòng công chứng, các bên tham gia ký kết hợp đồng đã nộp hồ sơ yêu cầu công chứng và xuất trình bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ tùy thân và các giấy tờ liên quan. Giấy tờ, thủ tục các bên xuất trình đầy đủ, hợp pháp, người tham gia giao dịch tự nguyện giao kết hợp đồng, có năng lực hành vi dân sự, phù hợp theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm công chứng, Công chứng viên chứng nhận hợp đồng không nhận được bất cứ yêu cầu ngăn chặn thực hiện giao dịch của cơ quan chức năng có thẩm quyền hoặc thông tin tranh chấp, khiếu nại đối với diện tích nêu trên. Phòng công chứng không có căn cứ xác định anh T2, ông H và bà H1 tẩu tán tài sản để từ chối yêu cầu công chứng. Căn cứ theo Luật Công chứng hiện hành và các văn bản pháp luật có liên quan thì việc công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên là hoàn toàn đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản án sơ thẩm số 145/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ các Điều 122, 124, 131, khoản 2 Điều 133, 463, 466, 468 và 500 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 227, 228 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T đối với anh Ngô Văn T2 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc anh Ngô Văn T2 có nghĩa vụ trả cho anh Trần Văn T số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng và tiền lãi 139.246.000 đồng, tổng cộng 839.246.000 (tám trăm ba mươi chín triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng.
Ghi nhận anh T, anh T2 không yêu cầu chị D (vợ anh T2) cùng có nghĩa vụ trả nợ số tiền nêu trên. Ngoài ra, các đương sự không yêu cầu gì khác
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn anh Trần Văn T, anh Nguyễn Chí T1 đối với anh Ngô Văn T2 về việc “Tranh chấp dân sự về yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu”.
Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 do Phòng C tỉnh Tây Ninh công chứng số 2918, quyển số: 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04-4-2022, đối với diện tích đất 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
Buộc ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1 giao trả cho anh Ngô Văn T2 diện tích đất 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc tại ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa số 13; Hướng Tây giáp thửa số 161; Hướng Nam giáp thửa số 162, 94, 93; Hướng Bắc giáp thửa số 113 và toàn bộ 550 cây cao su trên đất. Đồng thời, kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 862443, số vào sổ cấp GCN: CS04319 ngày 29-9-2020, được chỉnh lý tại mục những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T7 ngày 27-4-2022 cho ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 đứng tên sang cho anh Ngô Văn T2 đứng tên sau khi ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 thực hiện xong nghĩa vụ bảo đảm trả nợ đối với khoản vay 540.000.000 đồng của ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1 cho Ngân hàng TMCP C1, tại Chi nhánh thị xã H, tỉnh Tây Ninh, theo Hợp đồng tín dụng số [...]/2022-HĐCVHM/NHCT662 ngày 26-12-2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung ngày 28-12-2022 kèm theo, theo quyết định của bản án và khi anh T, anh T1 có yêu cầu.
Ghi nhận Ngân hàng TMCP C1 và ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 không tranh chấp Hợp đồng tín dụng số [...]/2022-HĐCVHM/NHCT662 ngày 26-12-2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung ngày 28-12-2022 kèm theo.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T, anh Nguyễn Chí T1 đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích 7.793,1m², thuộc thửa số 161, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1, được Phòng C tỉnh Tây Ninh công chứng ngày 04-4-2022 vô hiệu.
Anh Trần Văn T, anh Nguyễn Chí T1 được quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 23/10/2023, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét ông không đồng ý tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa anh Ngô Văn T2 với vợ chồng ông đối với thửa số 160, tờ bản đồ số 28, diện tích đất 10.000m², đất tọa lạc tại ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người kháng cáo ông Ngô Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng không tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông bà và anh T2 là vô hiệu đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 28, diện tích 10.000 m2, tọa lạc tại ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự:
+ Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Ngô Văn H.
+ Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, theo hướng: xác định ông H, bà H1 được quyền sử dụng phần đất thửa 160, diện tích 10.000m² (hiện đang thế chấp ngân hàng), ông H, bà H1 có trách nhiệm thanh toán cho anh T2 giá trị bằng tiền phần đất diện tích 10.000m² thửa 160 và tài sản trên đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của ông Ngô Văn H làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Ngô Văn H:
Anh Ngô Văn T2 thừa nhận có vay của anh T số tiền 700.000.000 đồng và anh T1 số tiền 460.000.000 đồng từ năm 2021, đến hạn chưa thanh toán nhưng vào ngày 04-4-2022, anh T2 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là tài sản duy nhất cho ông H, bà H1 (cha, mẹ ruột) đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 28, diện tích 10.000m², tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh và đã được Phòng C tỉnh Tây Ninh chứng nhận số 2918, quyển số: 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04-4-2022, được chỉnh lý tại mục những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T7 ngày 27-4-2022. Như vậy, anh T2 ý thức được rằng anh đang phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho anh T, anh T1 số tiền nêu trên khi đến hạn trả nợ. Mặc dù, anh T, anh T1 đã nhiều lần yêu cầu anh T2 trả nợ nhưng anh T2 không thực hiện và cũng không thỏa thuận để chuyển nhượng đất cấn trừ nợ mà tiến hành làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất là tài sản duy nhất cho ông H, bà H1 trong khi anh T2 xác định không còn tài sản nào khác để đảm bảo trả nợ cho khoản vay của anh T, anh T2.
[2.2.2] Đồng thời, xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 04-4-2022 giữa anh T2 và ông H, bà H1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án, anh T2 và ông H, bà H1 thừa nhận vào ngày 04-9-2020, giữa ông H, bà H1 và anh T2 có ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Việc tặng cho đã hoàn thành thủ tục và anh T2 đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 862443, số vào sổ cấp GCN: CS04319. Tuy nhiên, anh T2, ông H, bà H1 cho rằng chỉ cho anh T2 mượn đất để kinh doanh dự án điện năng lượng mặt trời, trồng nấm, chứ không phải tặng cho luôn anh T2 diện tích đất nêu trên là không có cơ sở vì khi làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất, giữa các bên không có thỏa thuận bất kỳ điều kiện tặng cho nào. Hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T7 cung cấp cho Tòa án cũng không thể hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện kèm theo. Đồng thời, khi ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, ông H, bà H1 đã ý thức được sẽ chuyển quyền sử dụng đất cho anh T2 nên không thể nói chỉ tặng cho đất cho anh T2 nhằm mục đích cho mượn đất kinh doanh và thuận tiện vay tiền Ngân hàng. Do vậy, căn cứ theo khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”, nên anh T2 là chủ sở hữu hợp pháp đối với diện tích đất nêu trên. Diện tích đất này là tài sản riêng của anh T2 được cha mẹ tặng cho, phù hợp với lời khai của chị Nguyễn Thị Kim D (vợ anh T2) xác định đây là tài sản riêng của anh T2. Ngoài Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, anh T2 cũng như ông H, bà H1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên không có căn cứ chấp nhận.
Sau khi anh T2 đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh T2 không kinh doanh dự án điện năng lượng mặt trời và trồng nấm nhưng ông H, bà H1 không yêu cầu anh T2 làm thủ tục sang tên trả lại diện tích đất nêu trên và cũng không có ý kiến phản đối việc anh T2 thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh T8 – Phòng G để vay số tiền 1.400.000.000 đồng. Trong đó, anh T2 thế chấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 862442, số vào sổ cấp GCN: CS 04320, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 29-9-2020 cho anh T2 đứng tên đối với diện tích đất 7.793,1m² tại tờ bản đồ số 161, thửa số 28 (anh T2 cũng đã tặng cho cho cha mẹ vào ngày 04-4-2022) và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất số CV 862443, số vào sổ cấp GCN: CS 04319, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 29-9-2020 cho anh T2 đứng tên đối với diện tích đất 10.000m² tại tờ bản đồ số 28, thửa số 160 đảm bảo cho khoản vay chung 760.000.000 đồng; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP336829, số vào sổ cấp GCN: CS 02335, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 06-11-2018 do ông H, bà H1 đứng tên đối với diện tích đất 306,5m² tại tờ bản đồ số 113, thửa số 142 đảm bảo cho khoản vay 640.000.000 đồng.
Anh T2 và ông H, bà H1 cho rằng do anh T2 không có khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn nên ông H, bà H1 chuyển nhượng diện tích đất khác của ông bà đứng tên để thay anh T2 trả nợ cho Ngân hàng N – N số tiền 1.400.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi Hội đồng xét xử xem xét các chứng cứ do anh T2 cung cấp là các bản sao kê chi tiết giao dịch bà Hoàng Thị X chuyển khoản tiền nhận chuyển nhượng đất vào tài khoản của anh Ngô Văn T2 tại Ngân hàng V1, số tài khoản 104000682538 với số tiền 4.100.000.000 đồng vào lúc 15 giờ 33 phút, ngày 25-3-2022. Sau đó, anh T2 chuyển khoản vào tài khoản của chị Nguyễn Thị Kim D (vợ anh T2), số tài khoản 720076604500001 vào lúc 15 giờ 37 phút đến 15 giờ 38 phút ngày 25-3-2022 với tổng số tiền 1.200.000.000 đồng, không phải 1.400.000.000 đồng như các đương sự đã trình bày. Đồng thời, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 862442, số vào sổ cấp GCN: CS 04320 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 862443, số vào sổ cấp GCN: CS 04319 do anh T2 đứng tên đảm bảo cho khoản vay chung 760.000.000 đồng nên riêng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 862443, số vào sổ cấp GCN: CS 04319 đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 28 thì ông H và bà H1 chỉ phải bỏ ra số tiền thấp hơn số tiền 760.000.000 đồng để trả nợ thay cho anh T2. Trong khi đó, theo kết quả định giá thì giá trị thực tế diện tích đất và cao su trên đất là 965.000.000 đồng. Việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho anh T2 tại Ngân hàng thấp hơn giá trị đất đã tặng cho cha mẹ. Trong khi anh T2 đang nợ tiền của anh T, anh T1 chưa thanh toán.
[2.2.3] Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 lập ngày 04-4-2022 là giao dịch giả tạo, nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho anh T, anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015: “Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu”, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T, anh Nguyễn Chí T1 về yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng số 2918, quyển số: 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 04-4-2022 giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 đối với diện tích 10.000m², thuộc thửa đất 160, tờ bản đồ 28, đất tọa lạc tại ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh vô hiệu là phù hợp các chứng cứ, tình tiết khách quan trong vụ án, phù hợp với lẽ phải.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự vô hiệu không phát sinh, thay đổi quyền và nghĩa vụ của các bên ngay tại thời điểm giao dịch, hai bên giao trả cho nhau những gì đã nhận. Anh T2 và ông H, bà H1 cho rằng diện tích đất và tài sản trên đất hiện do ông H, bà H1 quản lý, sử dụng nên cần buộc ông H, bà H1 trả lại cho anh T2 diện tích đất 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28 và toàn bộ 550 cây cao su trên đất.
[3] Từ đó cho thấy, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện nên kháng cáo của ông Ngô Văn H là không có cơ sở. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Ông Ngô Văn H kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn H;
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh;
- Căn cứ các Điều 122, 124, 131, khoản 2 Điều 133, 463, 466, 468 và 500 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 227, 228 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T đối với anh Ngô Văn T2 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc anh Ngô Văn T2 có nghĩa vụ trả cho anh Trần Văn T số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng và tiền lãi 139.246.000 đồng, tổng cộng 839.246.000 (tám trăm ba mươi chín triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng.
Ghi nhận anh T, anh T2 không yêu cầu chị D (vợ anh T2) cùng có nghĩa vụ trả nợ số tiền nêu trên. Ngoài ra, các đương sự không yêu cầu gì khác
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn anh Trần Văn T, anh Nguyễn Chí T1 đối với anh Ngô Văn T2 về việc “Tranh chấp dân sự về yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu”.
Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 do Phòng C tỉnh Tây Ninh công chứng số 2918, quyển số: 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04-4-2022, đối với diện tích đất 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
Buộc ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1 giao trả cho anh Ngô Văn T2 diện tích đất 10.000m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc tại ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa số 13; Hướng Tây giáp thửa số 161; Hướng Nam giáp thửa số 162, 94, 93; Hướng Bắc giáp thửa số 113 và toàn bộ 550 cây cao su trên đất. Đồng thời, kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 862443, số vào sổ cấp GCN: CS04319 ngày 29-9-2020, được chỉnh lý tại mục những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T7 ngày 27-4-2022 cho ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 đứng tên sang cho anh Ngô Văn T2 đứng tên sau khi ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 thực hiện xong nghĩa vụ bảo đảm trả nợ đối với khoản vay 540.000.000 đồng của ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1 cho Ngân hàng TMCP C1, tại Chi nhánh thị xã H, tỉnh Tây Ninh, theo Hợp đồng tín dụng số [...]/2022-HĐCVHM/NHCT662 ngày 26-12-2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung ngày 28-12-2022 kèm theo, theo quyết định của bản án và khi anh T, anh T1 có yêu cầu.
Ghi nhận Ngân hàng TMCP C1 và ông Ngô Văn H, bà Chu Thị H1 không tranh chấp Hợp đồng tín dụng số [...]/2022-HĐCVHM/NHCT662 ngày 26-12-2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung ngày 28-12-2022 kèm theo.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T, anh Nguyễn Chí T1 đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích 7.793,1m², thuộc thửa số 161, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, giữa anh Ngô Văn T2 với ông Ngô Văn H và bà Chu Thị H1, được Phòng C tỉnh Tây Ninh công chứng ngày 04-4-2022 vô hiệu.
Anh Trần Văn T, anh Nguyễn Chí T1 được quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng:
Anh Ngô Văn T2 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 2.000.000 đồng. Anh T, anh T1 đã nộp tạm ứng số tiền 2.000.000 đồng, mỗi người tạm ứng số tiền 1.000.000 đồng nên buộc anh T2 có nghĩa vụ trả lại cho anh T số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng và anh T1 số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí
5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Ngô Văn T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu là 300.000 đồng và 37.177.380 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Tổng cộng tiền án phí dân sự sơ thẩm anh T2 phải chịu là 37.477.380 (ba mươi bảy triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn ba trăm tám mươi) đồng.
Anh Trần Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Trần Văn T 18.275.400 (mười tám triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn bốn trăm) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0007925 ngày 14-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Anh Nguyễn Chí T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Nguyễn Chí T1 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0007926 ngày 14-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
5.2. Án phí phúc thẩm: Ông Ngô Văn H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông H đã nộp theo Biên lai thu số 0008740 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Chí Quốc |
Bản án số 176/2024/DS-PT ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu
- Số bản án: 176/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay tài sản và yêu cầu tuyên bố HĐ tặng cho vô hiệu
