Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1756/2025/HN-ST

Ngày: 30/6/2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Cửu Long.

2. Ông Trần Đăng Vạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường, vụ án thụ lý số 114/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5010/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 5595/2025/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Tấn H, sinh năm 1983.

Địa chỉ: E T, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1984.

Địa chỉ cư trú: 1 Q, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

(Ông H có đơn xin vắng mặt, bà H1 vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 31/12/2024, Bản tự khai; Biên bản giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn – ông Huỳnh Tấn H trình bày:

Ông Huỳnh Tấn H và bà Nguyễn Thị H1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48; Quyển số I/KH09 cấp ngày 21/7/2009. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hiểu nhau, cuộc sống không hòa hợp thường xuyên cãi vả. Do ông và bà H1 đã ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H1 để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị H1 có 01 con chung là Huỳnh Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 19/5/2010. Hiện trẻ H2 đang sinh sống cùng bà H1. Ông H đồng ý giao con chung cho bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng và ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết

Bị đơn – Bà Nguyễn Thị H1 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do tại tất cả các buổi cung cấp lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải và phiên tòa nên Tòa án không thu thập được lời khai của bà H1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức cần rút kinh nghiệm.

+ Về nội dung: Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Huỳnh Tấn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn - ông Huỳnh Tấn H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị H1 nên xác định là quan hệ tranh chấp về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

+ Trong quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa sơ thẩm là thuộc trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Tại Phiếu yêu cầu xác minh số 972/2025/PYCXM ngày 31/3/2025, Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thông tin cho biết: “Công dân Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984 đang tạm trú tại địa chỉ: 100/10 Q, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã thực hiện thủ tục tống đạt trực tiếp và niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bị đơn – bà Nguyễn Thị H1 tại địa chỉ cư trú nêu trên bao gồm: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự đến Tòa để trình bày lời khai, Thông báo về phiên họp kiểm tra và giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập đương sự đến Tòa để tham gia hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập đương sự đến Tòa để tham gia phiên tòa, Quyết định hoãn phiên Toà, Giấy triệu tập đương sự đến Tòa để tham gia phiên tòa lần 2 theo quy định của pháp luật. Trong tất cả những lần Tòa án niêm yết công khai văn bản tố tụng kể từ khi vụ án được thụ lý ngày 17/01/2025, bị đơn – bà Nguyễn Thị H1 đều vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn – ông Huỳnh Tấn H vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

+ Phạm vi giải quyết vụ án: Bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ: Theo biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 07/5/2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt đã được tiếp cận, biết và nắm rõ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, bị đơn vắng mặt nên không xuất trình các tài liệu chứng cứ nhưng các đương sự không có yêu cầu, khiếu nại gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được các bên đương sự giao nộp, tiếp cận, công khai theo quy định tại Điều 91, Điều 95, Điều 96 và Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn - ông Huỳnh Tấn H:

- Về quan hệ hôn nhân:

Ông Huỳnh Tấn H và bà Nguyễn Thị H1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48; Quyển số I/KH09 cấp ngày 21/7/2009 nên xác định hôn nhân của ông Huỳnh Tấn H và bà Nguyễn Thị H1 là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hiểu nhau, cuộc sống không hòa hợp thường xuyên cãi vả. Do ông và bà H1 đã ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Mặc dù lời khai này của ông H không được đối chất với bà H1 nhưng trong suốt quá trình Tòa án thụ lý đơn ly hôn của ông H đến nay, bà H1 không chấp hành có mặt theo giấy triệu tập của Tòa, cũng không có bất cứ ý kiến nào gửi cho Tòa án về yêu cầu ly hôn của ông H. Điều này vừa chứng tỏ bà H1 không tôn trọng quy định của pháp luật, không chấp hành yêu cầu triệu tập của Tòa án, vừa thể hiện ý thức không quan tâm, coi trọng hôn nhân của chính bản thân bà. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương nơi ông H và bà H1 chung sống, theo Công văn số 259/UBND ngày 24/4/2025 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T v/v trả lời yêu cầu xác minh: “Trong thời gian tạm trú tại địa phương, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T chưa nhận được đơn thư tranh chấp, kiến nghị của bà Nguyễn Thị H1 và ông Huỳnh Tấn H”.

Do bà H1 vắng mặt không có ý kiến nên Hội đồng xét xử xem xét ý kiến phía ông H đưa ra và những tài liệu chứng cứ thu thập được. Từ những nhận định trên cho thấy mối quan hệ hôn nhân của ông H và bà H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, tình cảm không còn và không thể hàn gắn được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Huỳnh Tấn H là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình và khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự.

- Về con chung: Ông Huỳnh Tấn H và bà Nguyễn Thị H1 có 01 con chung là Huỳnh Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 19/5/2010. Hiện con đang sinh sống cùng bà H1 nên ông H đồng ý giao con chung cho bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng và ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại trẻ là Huỳnh Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 19/5/2010 đang do bà Nguyễn Thị H1 trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Toà án không thể tiến hành lấy ý kiến của trẻ H2 được do bà H1 vắng mặt không lý do. Ông H đồng ý giao con chung là trẻ Huỳnh Nguyễn Thanh H2 cho bà H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của ông H, giao trẻ Huỳnh Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 19/5/2010 cho bà Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với các quy định của pháp luật. Đồng thời, ông Huỳnh Tấn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Huỳnh Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 19/5/2010. Mức cấp dưỡng là 2.000.000 (Hai triệu) đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 05 đến ngày 10 hàng tháng, thời gian bắt đầu từ tháng 8 năm 2025.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Ông Huỳnh Tấn H chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, bà H1 không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 243, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – ông Huỳnh Tấn H.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Tấn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hoài .

Giấy chứng nhận kết hôn số 48; Quyển số I/KH09 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên cấp ngày 21/7/2009 cho ông Huỳnh Tấn H và bà Nguyễn Thị H1 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 19/5/2010 cho bà Nguyễn Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ông Huỳnh Tấn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 (Hai triệu) đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 05 đến ngày 10 hàng tháng, thời gian bắt đầu từ tháng 8 năm 2025.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ trả tiền theo quy định thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.

Các bên thi hành dưới sự giám sát của Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, ông Huỳnh Tấn H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông H đã nộp theo Biên lai thu số 0079266 do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức lập ngày 14 tháng 01 năm 2025.

Án phí cấp dưỡng: Ông Huỳnh Tấn H chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Ông H chưa nộp.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. Thủ Đức;
  • - THA Tp. Thủ Đức, Tp.HCM;
  • - UBND Ủy ban nhân dân Phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1756/2025/HN-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1756/2025/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger