Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 175/2024/HS-ST

Ngày 31 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Vũ Ngọc Hiệp
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thúy Hằng
  • Ông Võ Phi Hồng
  • - Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 221/TB-TA ngày 19 tháng 7 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 227/TB-TA ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Hồng T, sinh năm 1971 tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1947 và bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1954; Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 04 anh em; Bị cáo có vợ là Lê Thị C, sinh năm 1980 và 02 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2003), Tiền sự: Ngày 20/3/2023 bị Công an huyện N xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 4/5/2023 T đã nộp phạt; Tiền án: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N (bị cáo có mặt).

  2. Nguyễn Phi H1, sinh năm 1990 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp X, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963 và bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1963; Bị cáo là con thứ 03 trong gia đình có 04 chị em; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 25/7/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 40.000.000 đồng và buộc phải nộp 200.000 đồng án phí HSST. H1 đã đóng 200.000 đồng án phí HSST nhưng chưa đóng số tiền phạt 40.000.000 đồng;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N (bị cáo có mặt).

  3. Nguyễn Văn P, sinh năm 1988 tại tỉnh Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1967; Bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 03 anh em; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1984 và có 01 con (sinh năm 2023); Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 13/12/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên xử 10 năm tù về tội Giết người và buộc phải bồi thường 34.000.000 đồng và đóng 200.000 đồng án phí HSST; 1.700.000 đồng án phí DSST. Chấp hành xong ngày 29/4/2020 và đã đóng 200.000 đồng án phí HSST, 1.300.000 đồng án phí DSST và bồi thường số tiền 1.300.000 đồng

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N (bị cáo có mặt).

  4. Nguyễn Công H2, sinh năm 1967 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1938 và bà Huỳnh Kim N1, sinh năm 1939; Bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 06 chị em; Bị cáo có vợ là Dương Thúy H3, sinh năm 1964 và có 01 con (sinh năm 2001); Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N (bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ ngày 22/02/2024, Nguyễn Phi H1 mang theo 1.500.000 đồng, Nguyễn Văn P mang theo 1.200.000 đồng, Nguyễn Công H2 mang theo 1.500.000 đồng và S (chưa rõ nhân thân, lai lịch) rủ nhau đến phòng trọ của Phạm Hồng T để tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Chơi bài cào tố”. Khi đến phòng trọ thì T đồng ý cho các con bạc kéo điện từ phòng trọ T ra trước sân để lắp đèn điện chiếu sáng, đồng thời T cung cấp 03 bộ bài tây (loại 52 lá), nước và thuốc lá; mỗi ván con bạc nào thắng sẽ phải trích ra số tiền 10.000 đồng bỏ vào thùng carton để trả cho T. Trong quá trình đánh bạc thì H1, P, H2 chơi mỗi ván mỗi người đặt tẩy 20.000 đồng và quy định người tố 40.000 đồng đến 200.000 đồng, ai thắng thì được chia bài cầm cái; mỗi người chơi được chia 03 lá, quân J, Q, K và số nút liên tiếp nhau 2, 3, 4 thì gọi là Liêng, ba con bài giống nhau thì gọi là Sám Cô, ba lá bài không liên tục cộng lại tính điểm 9. Người chơi so với nhau nếu bằng điểm, bằng Liêng thì ai có bài lớn nhất sẽ thắng, sau khi xem bài thì mỗi người chơi được T3 (đặt thêm tiền vào ván bài từ 40.000 đồng đến 200.000 đồng) theo thứ tự từ trái sang phải, đến khi không ai tố nữa thì mở bài so thắng thua. H1, P, H2 tham gia chơi nhiều ván bài với nhau từ 19 giờ đến 21 giờ cùng ngày thì bị Đ1 Công an huyện N bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 7.600.000 đồng, 03 bộ bài tây (loại 52 lá), 01 chiếu, 01 thùng carton bên trong có 500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - Số tiền 8.100.000 đồng
  • - 03 bộ bài tây (loại 52 lá)
  • - 01 chiếu màu vàng
  • - 01 thùng carton màu đỏ

Tại bản Cáo trạng số: 150/CT-VKS - NT ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố Phạm Hồng T, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Công H2 về tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị tuyên phạt bị cáo Phạm Hồng T từ 07 (bảy) đến 08 (tám) tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn P từ 07 (bảy) đến 08 (tám) tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Công H2 từ 06 (sáu) đến 07 (bảy) năm tù.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 8.100.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 03 bộ bài tây (loại 52 lá); 01 chiếu màu vàng; 01 thùng carton màu đỏ.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí của Tòa án buộc các bị cáo Phạm Hồng T, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Công H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với tên S có hành vi tham gia đánh bạc, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Các bị cáo không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các bị cáo khác không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Hồng T, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Công H2 đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:

Vào lúc 21 giờ ngày 22/02/2024, tại ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Phạm Hồng T đã chuẩn bị địa điểm, bài, thuốc lá và nước uống cho Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Công H2S (chưa rõ nhân thân) thực hiện hành vi Đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức “đánh bài cào tố” để thu tiền xâu, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 8.100.000 đồng.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Phạm Hồng T, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Công H2 phạm tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo:

Xét tính chất tội đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Do đó cần xử phạt các bị cáo mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với bị cáo Phạm Hồng T là người cho mượn địa điểm, chuẩn bị đèn điện, bài, thuốc lá và nước uống cho các con bạc đánh bạc với nhau và thu tiền xâu.

Các bị cáo Nguyễn Phi H1Nguyễn Văn P, Nguyễn Công H2 là con bạc trực tiếp tham gia đánh bạc.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • - Các bị cáo Phạm Hồng T, Nguyễn Công H2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
  • - Các bị cáo Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn P tái phạm, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Phạm Hồng T, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Công H2 hành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

[6] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 8.100.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 03 bộ bài tây (loại 52 lá); 01 chiếu màu vàng; 01 thùng carton màu đỏ.

[7] Về án phí sơ thẩm: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[8] Đối với tên S có hành vi tham gia đánh bạc, chưa xác định được nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng T phạm tội “ Đánh bạc”.
    2. Xử phạt bị cáo Phạm Hồng T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2024.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H1 phạm tội “ Đánh bạc”.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2024.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “ Đánh bạc”.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2024.
  4. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H2 phạm tội “ Đánh bạc”.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2024.
  5. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 8.100.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 03 bộ bài tây (loại 52 lá); 01 chiếu màu vàng; 01 thùng carton màu đỏ.
    • (Vật chứng, tài sản nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/6/2024; Biên lai thu tiền số 0007335 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch).
  6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Phạm Hồng T, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Công H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai
  • - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục thi hành án DS huyện Nhơn Trạch;
  • - Bị cáo; Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Vũ Ngọc Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 175/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Th phạm tội “ Đánh bạc”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger