|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 175/2024/HS-ST Ngày 29 - 8 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vượng
- Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 169/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1987. Tên gọi khác: Không
Nơi ĐKHKTT: Số nhà A, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: P- D3 Tòa nhà CT1 chung cư G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Tuấn S, sinh năm: 1959; Con bà: Đặng Thị D, sinh năm 1961; Bị cáo có hai anh em, là thứ hai trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm: 1987; Có hai con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- * Bị hại: Lê Quang V, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Số nhà A đường H, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1987. Địa chỉ: P - D, Tòa nhà C Chung cư G city, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
- Nguyễn Văn V1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Lô S đường N, tổ dân phố D, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
- Thân Đức A, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Đinh Xuân Q, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội (vắng mặt)
- Lê Mạnh T, sinh năm: 1993. Địa chỉ: Thôn D, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội (vắng mặt)
- Nông Lan A1, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Số nhà A, đường H, thôn P, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1987, đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường N, thành phố B, hiện ở tại Phòng 16 D3, Tòa nhà C Chung cư G, phường T, thành phố B có mối quan hệ bạn bè với anh Lê Quang V, sinh năm 1990, trú tại số nhà A, đường H, xã S, thành phố B. H biết anh V có chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning biển số 30E- 406.59 cho thuê tự lái. Chiếc xe ô tô này đăng ký xe mang tên Đinh Xuân Q, sinh năm 1995, trú tại xóm H, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội, anh Q đã chuyển nhượng cho anh Lê Mạnh T, sinh năm 1993, trú tại thôn D, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội và anh T chuyển nhượng cho chị Nông Lan A1, sinh năm 1994 là vợ của anh Lê Quang V.
Khoảng 10 giờ ngày 16/11/2023, H điện thoại cho anh V đặt vấn đề thuê chiếc xe ô tô trên để đi giải quyết công việc và bảo anh V điều khiển xe ô tô đến quán cà phê đối diện chung cư G trên đường T, thành phố B để làm hợp đồng thuê xe. Anh V đồng ý rồi điều khiển xe ô tô biển số 30E- 406.59 đi đến điểm hẹn gặp H. Tại đây, anh V yêu cầu phải có mặt vợ của H để cùng ký hợp đồng thuê xe. H gọi điện cho vợ là chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1987 đến để cùng ký hợp đồng. Anh V và H thỏa thuận và ký hợp đồng thuê xe theo mẫu in sẵn với giá 800.000 đồng/một ngày, thời gian thuê từ ngày 16/11/2023 đến ngày 17/11/2023, đặt cọc số tiền là 20.000.000 đồng. Chị H1 cũng ký vào mục bên thuê xe theo yêu cầu của anh V. Sau đó, chị H1 chuyển khoản cho anh V 28.000.000 đồng (gồm 20.000.000 đồng tiền đặt cọc và 8.000.000 đồng tiền thuê xe trong 10 ngày). Anh V giao cho H chiếc xe ô tô kèm theo giấy đăng ký xe, đăng kiểm xe ô tô. Sau khi thuê xe, H sử dụng làm phương tiện đi lại giải quyết công việc cá nhân. Khi hết hạn hợp đồng thuê xe, H điện thoại cho anh V xin gia hạn thuê xe 10 ngày và chuyển khoản trả tiền thuê xe. H sử dụng xe ô tô thuê của anh Lê Quang V đến ngày 27/12/2023 thì nảy sinh ý định mang đi cầm cố lấy tiền. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, H điều khiển xe ô tô biển số 30E-406.59 đến nhà anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1993, trú tại lô S đường N, tổ dân phố D, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cầm cố chiếc xe ô tô trên cho anh V1 để vay 140.000.000 đồng, thời hạn vay là 10 ngày. Do H không trả tiền như thoả thuận nên đến ngày 19/02/2024, anh V1 đã bán chiếc xe ô tô này cho anh Thân Đức A, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố H, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang với giá 235.000.000 đồng. Khi H không trả xe, anh Lê Quang V nhiều lần yêu cầu Nguyễn Tuấn H mang xe về trả thì H nói dối vẫn đang sử dụng, sau đó thừa nhận với anh V đã mang xe ô tô cầm cố vay tiền. Ngày 05/3/2024, anh V làm đơn tố cáo và giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 hợp đồng thuê xe ô tô đề ngày 16/11/2023.
Ngày 05/3/2024, anh Thân Đức A giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning màu sơn đỏ, không gắn biển số, có số khung 096955, số máy 104390, xe sản xuất năm 2016 và 01 giấy chứng nhận đăng kiểm số 2884850. Anh Nguyễn Văn V1 cũng giao nộp 01 file video ghi lại hình ảnh H viết giấy bán xe.
Bản kết luận định giá số 77/KL-HĐ ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) chiếc xe ôtô nhãn hiệu Kia Morning màu sơn đỏ, biển số 30E-406.59, sản xuất năm 2016, xe cũ đã qua sử dụng có trị giá thời điểm tháng 11/2023 là 195.000.000 đồng.”
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của anh Lê Quang V, Nguyễn Tuấn H và chị Nguyễn Thị Thu H1 trong bản hợp đồng thuê xe ô tô tự lái đề ngày 16/11/2023; trưng cầu giám định 01 đoạn video do anh Nguyễn Văn V1 giao nộp.
Kết luận giám định số 968/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- “1- Chữ ký mang tên Lê Quang V dưới mục “Đại diện bên A” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Lê Quang V trên tài liệu mẫu (ký hiệu M6) là do cùng một người ký ra.
- 2- Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung “H – Nguyễn Tuấn H” dưới mục “Đại diện bên B – chồng” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Tuấn H trên tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người ký, viết ra.
- 3- Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị Thu H1 dưới mục “vợ” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Thu H1 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M4, M5) là do cùng một người ký, viết ra.”
Kết luận giám định số 1871/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- “1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “5701699248082.mp4" dung lượng: 11,4M, thời lượng: 01 phút 45 giây lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
- 2. Trích xuất được 06 (sáu) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.”
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Tuấn H quan sát file video nêu trên. Kết quả H xác định có hình ảnh H đang viết giấy bán xe ô tô biển số 30E-406.59 cho anh V1.
Bản cáo trạng số 174/CT-VKS ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt sản” theo điểm c khoản 2 điều 175 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong phần luận tội đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập được xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Nguyễn Tuấn H đã có hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX): Căn cứ điểm c khoản 2 điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H từ 04 (bốn) năm tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
- + Về trách nhiệm dân sự: không
- + Về vật chứng: Không xem xét.
- + Về án phí: Căn cứ điều 136; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn H đã khai nhận hành vi phạm tội, xác định nội dung cáo trạng đã nêu là đúng hành vi đã thực hiện, bị cáo không thấy bị oan, sai, không bị ép cung, nhục hình. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, thấy rất ân hận. Bị cáo thuê xe mục đích để lại lại làm việc, tuy nhiên do làm ăn bị thua lỗ nên đã cầm cố xe cho anh V1 lấy số tiền 140.000.000 đồng mà không được sự đồng ý của anh V, đã chi tiêu hết số tiền trên, không có tiền chuộc xe. Bị cáo cầm cố xe cho anh V1 chứ không bán, nhưng do anh V1 yêu cầu viết giấy bán xe nên bị cáo viết. Khi anh V gọi trả xe lúc đầu bị cáo nói dối vẫn đang sử dụng, nhưng sau đó anh V đòi nhiều, bị cáo đã thừa nhận cầm cố xe. Anh V đã làm đơn gửi công an. Việc bị cáo mang xe đi cầm cố, bị cáo không nói cho vợ biết, không nói cho anh V1 biết nguồn gốc xe. Đối với việc bồi thường, bị cáo đã trả xong tiền cho anh V1, và bồi thêm tiền xe cho anh V, không còn vướng mắc gì. Bị cáo tranh luận mức hình phạt kiểm sát viên đề xuất là cao, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Chị Nguyễn Thị Thu H1 khai có được bị cáo gọi về ký hợp đồng thuê xe của anh V, chị là người đã chuyển trả tiền thue xe, tiền đặt cọc cho anh V. Khi H mang xe đi cầm cố lấy tiền, H không nói cho chị biết, đến khi anh V gọi đòi xe chị mới biết sự việc, sau đó thì anh V đã gửi đơn đến cơ quan điều tra. Chị và H đã đi vay mượn tiền trả cho anh V1, ngoài ra còn trả cho anh V tiền thuê xe, tiền bồi thường, đến nay đã xong, không có tranh luận gì.
Trong phần tranh luận, kiểm sát viên xác định tài sản bị cáo chiếm đoạt có trị giá 195.000.000 đồng, theo điểm c khoản 2 điều 175 Bộ luật hình sự, mức hình phạt theo quy định từ 2 năm đến 7 năm tù, căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo theo mức từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, nên vẫn giữ nguyên đề nghị.
Bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về sự vắng mặt người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên, trong quá trình điều tra, những người tham gia tố tụng trên đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai đầy đủ. Quá trình xét xử, Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng những người này vắng mặt không có lý do, tại phiên tòa kiểm sát viên, bị cáo đề nghị HĐXX tiếp tục phiên tòa, HĐXX căn cứ điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử.
[3]. Về hành vi của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tuấn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bởi các chứng cứ khác như kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các kết luận giám định đối với chữ viết của bị cáo trong hợp đồng thuê xe, hình ảnh camera do anh Nguyễn Văn V1 giao nộp. Có cơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Tuấn H đã thuê xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, biển số 30E-406.59, số máy G4LAGP104390, số khung RNYTC51A4GC096953 của anh Lê Quang V để tự lái. H và anh V có lập hợp đồng thuê xe thời hạn một ngày, giá là 800.000 đồng, sau đó có gia hạn thời gian thuê xe. Sau khi được anh V giao xe, H sử dụng làm phương tiện đi lại, đến ngày 27/12/2023, H đã tự ý mang chiếc xe ô tô trên đi cầm cố cho anh Nguyễn Văn V1 ở phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang lấy số tiền 140.000.000 đồng mà không được anh Lê Quang V đồng ý, không trả lại tài sản cho anh V khi anh V yêu cầu. Trị giá tài sản xe ô tô bị cáo chiếm đoạt được định giá là 195.000.000 (một trăm chín mươi lăm triệu) đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn H đã đủ căn cứ cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và với trị tài giá sản trên, hành vi của bị cáo đã vi phạm điểm c khoản 2 điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung (c. Chiếm đoạt tài sản có trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng). Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Không.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả và đã đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 của BLHS.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tương xứng, phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm tương tự đang ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay. HĐXX quyết định áp dụng mức hình phạt bằng mức nhẹ nhất mà kiểm sát viên đã đề xuất tại phiên tòa.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
HĐXX xét thấy bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm vụ lợi, tuy nhiên, hiện bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập, do đó HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Quang V, người có quyền, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn V1 đã được hoàn trả tài sản, không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.
[7]. Về vật chứng: Đối với xe ô tô nhãn hiệu Kia morning, biển số 30E-406.59 đã được trả lại cho bị hại nên HĐXX không xem xét.
[8]. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đối với anh Đĩnh Xuân Q1 là người đứng tên trong Giấy đăng ký xe ôtô biển số 30E-406.59, quá trình điều tra xác định anh Q1 đã chuyển nhượng xe cho anh Lê Mạnh T, anh T đã chuyển nhượng xe cho chị Nông Lan A1 là vợ của anh Lê Quang V, do các bên đều xác định đã chuyển nhượng tài sản cho nhau, không tranh chấp gì, do đó không đặt ra xem xét. Đối với chị Nguyễn Thị Thu H1 là vợ bị cáo Nguyễn Tuấn H, quá trình điều tra và tại phiên tòa cho thấy, chị H1 có tham gia ký hợp đồng thuê xe của anh V cùng H, trả tiền đặt cọc, tiền thuê xe, tuy nhiên sau đó H tự ý cầm cố cho anh V1, chị H1 không biết, không tham gia việc cầm cố, nhận tiền, sử dụng tiền, do đó cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xem xét trách nhiệm hình sự của chị H1, HĐXX thấy là phù hợp.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về điều luật, tội danh, mức hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 2 điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 135, điều 136; điều 292; điều 293; điều 331, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H 04 (bốn) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ bắt thi hành án.
[2]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn H phải chịu 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm.
[3]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
[4].Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 175/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn H đã thuê xe ô tô tự lái, sau đó mang đi cầm cố lấy tiền. Hành vi của bị cáo phạm tội LDTNCĐTS, đủ căn cứ kết tội và bị xử phạt 4 năm tù
