|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 175/2024/HSST Ngày: 28-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Lan.
Ông Vũ Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 172/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Văn H; sinh ngày 10-7-1953 tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: số A đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; con ông: Phạm Văn H1 và bà: Nguyễn Thị G; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 30-5-2024 đến ngày 07-6-2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chăn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Thị Y; sinh năm 02-3-1967 tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: số G đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; con ông: Nguyễn Đức H2 và bà: Vũ Thị T; có chồng (đã chết) và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 30-5-2024 đến ngày 07-6-2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chăn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Họ và tên: Trần Thị H3; sinh ngày 02-11-1982 tại tỉnh Nam Định; căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: số A đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở trước khi bị bắt: số B đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; con ông: Trần Đình S và bà: Nguyễn Thị H4; đã ly hôn chồng, có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 30-5-2024, chuyển tạm giam ngày 07-6-2024; có mặt.
- Họ và tên: Phạm Thị T1; sinh ngày 20-7-1965 tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: số E đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; con ông: Phạm Đức T2 và bà: Nguyễn Thị T3; có chồng và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 30-5-2024, chuyển tạm giam ngày 07-6-2024; có mặt.
- Họ và tên: Trần Hữu H5; sinh ngày 30-9-1972 tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: thôn C, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; con ông: Trần Hữu H6 và bà: Bùi Thị H7; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 30-5-2024 đến ngày 07-6-2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công việc ổn định, từ tháng 01-2024 Phạm Văn H thường rủ rê, lôi kéo người quen biết đến nhà mình ở số A đường Đ, phường C, thành phố N đánh bạc để thu lợi bất chính tiền hồ. Khoảng 8 giờ 40 phút ngày 29-5-2024, Trần Thị H3 gọi điện hỏi H có đủ người để đánh bạc không, H hẹn H3 10 giờ cùng ngày qua nhà H. Sau đó H gọi điện thoại rủ Trần Hữu H5, Nguyễn Thị Y đến nhà đánh bạc, H5 và Y đồng ý.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, Phạm Thị T1 đến nhà H chơi. Ít phút sau, Y và H3 đi cùng bà Ngô Thị Bích N, sinh năm 1971, trú tại phường T, thành phố N đến nhà H. Tại đây, H rủ Y, H3 và T1 đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền. H lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá màu đỏ, cả bốn ngồi tròn xung quanh bàn ăn. Khi bắt đầu đánh bạc H ngồi tại ghế quay lưng với cửa chính, ngồi bên phải H là Y, tiếp theo là T1, cuối cùng là H3, bà N ngồi phía sau xem. H bỏ ra khoảng 500.000 đồng, Y bỏ ra khoảng 5.500.000 đồng, T1 bỏ ra khoảng 1.200.000 đồng và H3 bỏ ra khoảng 2.200.000 đồng.
Về cách thức đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm các bị can thống nhất như sau:
Mỗi người chơi bạc sẽ được chia 9 lá bài trong bộ bài tú lơ khơ 52 lá. Trong đó, riêng trường hợp người chia bài sẽ được chia 10 lá và được đánh trước. Người giữ 10 lá bài sẽ đánh lá bài đầu tiên, sau đó những người chơi tiếp theo sẽ được đánh theo ngược chiều kim đồng hồ tính từ người đầu tiên. Mỗi người chơi sẽ đánh ra 1 lá bài, những người sau nếu hợp và tạo thành phỏm thì có thể ăn lá bài đó rồi đánh ra một lá bài khác cho người tiếp theo. Nếu như người chơi không ăn lá bài của người trước thì sẽ bốc 1 lá bài trong bộ nọc, sau đó cũng đánh ra một lá bài khác tùy chọn hoặc đánh ra chính lá bài vừa bốc được nếu không hợp phỏm. Lượt chơi như vậy cứ thế tiếp diễn cho đến hết 4 lượt bài. Sau khi hạ phỏm, các người chơi có thể gửi bài nếu những lá bài trên tay của mình hợp với các phỏm đã hạ của người trước đó và những lá gửi này sẽ không bị tính điểm. Nếu có người ù thì thắng tuyệt đối, các người chơi còn lại sẽ đền cược cho người đó. Nếu không có bài ù thì tiến hành tính điểm các lá bài của mình để xếp thứ hạng và không tính điểm các phỏm. Phỏm: Là những bộ bài có từ 3 lá bài đồng chất liên tiếp nhau hoặc có từ 3 lá bài đồng hạng. Bài rác: Khi chơi bài phỏm, thông thường người chơi sẽ đánh những lá bài rác cho người ngồi ở dưới (ngồi bên tay phải), đây chính là những lá bài mà họ nghĩ không thể làm cạ với các cây khác hoặc không thuộc bất kỳ phỏm nào. Nọc: Sau khi chia bài xong, các lá bài còn dư sẽ được gọi là nọc, chúng sẽ được để ra giữa bàn để người chơi bốc ở các vòng. Móm: Nếu như mọi người kết thúc ván bài, đồng thời các cây ở nọc đã được bốc hết lên mà không có phỏm nào sẽ được coi là móm. Ù: Nếu tất cả 9 lá bài trên tay đều tạo thành các phỏm thì bạn ù và giành chiến thắng tuyệt đối. Ăn chốt: Trong lượt cuối cùng, người chơi đánh một lá bài cho người ngồi ở cửa dưới mà bị người ngồi ở cửa dưới ăn tạo thành phỏm thì được tính là ăn cây chốt.
Trong quá trình đánh bạc, nếu có người “Ù” thì mỗi người chơi phải trả cho người thắng số tiền 100.000 đồng, người “Ù” phải bỏ ra số tiền 20.000 đồng đến 30.000 đồng để trả “tiền hồ” cho H. Nếu có người “Móm” không có “Phỏm” phải trả cho người thắng số tiền 80.000 đồng. Với mỗi ván chơi người về nhì phải trả cho người về nhất số tiền 20.000 đồng, người về ba trả cho người về nhất số tiền 40.000 đồng, người về cuối trả cho người về nhất số tiền 60.000 đồng. Nếu bị ăn lá đầu tiên thì phải trả cho người đã ăn lá bài đó số tiền 20.000 đồng, bị ăn lá thứ hai phải trả số tiền 40.000 đồng, bị ăn lá thứ ba phải trả số tiền 60.000 đồng. Trường hợp bị ăn liên tiếp 3 lá thì phải “đền” số tiền 300.000 đồng cho người thắng.
Bốn người chơi được khoảng 15 phút thì Trần Hữu H5 cùng bạn là ông Trần Hữu T4, sinh năm 1978, trú tại phường L, thành phố N đến nhà H. Lúc này H đang hòa tiền nên cất số tiền 500.000 đồng và nhường lại chỗ cho Hà chơi, còn ông T4 ngồi phía sau H5 xem. Như vậy, Phạm Văn H, Trần Thị H3, Nguyễn Thị Y, Phạm Thị T1 đánh bạc với tổng số tiền là khoảng 9.400.000 đồng. H5 bỏ ra số tiền khoảng 1.000.000 đồng tham gia đánh bạc.
Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 11 giờ 45 phút thì tổ công tác Công an phường C, thành phố N kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của T1 1.345.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6S màu vàng, Y 3.621.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng, H3 3.854.000 đồng, H5 1.150.000 đồng và 01 điện thoại Iphone XS Max màu trắng, 150.000 đồng tiền hồ. Như vậy Trần Thị H3, Nguyễn Thị Y, Phạm Thị T1, Trần Hữu H5 đã đánh bạc với tổng số tiền là 10.120.000 đồng (trong đó có 150.000 đồng tiền hồ). Tại công an phường C, H có đơn xin đầu thú và tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen. Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn H, Nguyễn Thị Y, Trần Hữu H5, Trần Thị H3, Phạm Thị T1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm.
Ngày 17-6-2024, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N phục hồi, trích xuất dữ liệu của 04 chiếc điện thoại di động đã thu giữ.
Kết luận giám định số 1234/KL-KTHS ngày 02-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Phục hồi, trích xuất được 338 nhật ký cuộc gọi điện thoại, 25 tin nhắn văn bản SMS, 04 file ảnh trong thư viện ảnh trong điện thoại Iphone XS Max màu trắng của Trần Hữu H5. Phục hồi, trích xuất được 655 tin nhắn văn bản SMS trong điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng của Nguyễn Thị Y. Phục hồi, trích xuất được 1987 tin nhắn văn bản SMS trong điện thoại Iphone 6S màu vàng của Phạm Thị T1. Phục hồi, trích xuất được 46 nhật ký cuộc gọi điện thoại, 501 tin nhắn văn bản SMS, 02 file ảnh trong thư viện ảnh trong điện thoại Iphone 7 Plus màu đen của Phạm Văn H. Không xác định được dữ liệu phục hồi, trích xuất trên có liên quan đến hành vi đánh bạc hay không.
Bản Cáo trạng số 175/CT-VKSTPNĐ ngày 07-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Thị Y, Trần Thị H3, Phạm Thị T1 và Trần Hữu H5 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Thị Y, Trần Thị H3, Phạm Thị T1 và Trần Hữu H5 khai nhận hành vi chơi phỏm được thua bằng tiền như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo; điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Văn H; tuyên bố: các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Thị Y, Trần Thị H3, Phạm Thị T1 và Trần Hữu H5 phạm tội “Đánh bạc”; xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Y từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, xử phạt bị cáo Trần Thị H3 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, xử phạt bị cáo Phạm Thị T1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, xử phạt bị cáo Trần Hữu H5 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Thị Y, Trần Thị H3, Phạm Thị T1, Trần Hữu H5 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của các bị cáo và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 29-5-2024, Phạm Văn H rủ Nguyễn Thị Y, Trần Hữu H5, Trần Thị H3, Phạm Thị T1 đến nhà bị cáo H tại số A đường Đ phường C thành phố N đánh bạc được thua bằng tiền để thu tiền hồ. Khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày H bỏ ra khoảng 500.000 đồng, Y bỏ ra khoảng 5.500.000 đồng, T1 bỏ ra khoảng 1.200.000 đồng và H3 bỏ ra khoảng 2.200.000 đồng cùng đánh bạc dưới hình thức chơi phỏm. Khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày H5 vào thay H và bỏ ra khoảng 1.000.000 đồng để đánh bạc bằng hình thức chơi phỏm cùng Y, H3, T1. Các đối tượng đánh bạc đến 11 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Cơ quan công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 10.120.000 đồng (trong đó 150.000 đồng tiền hồ), số tiền bị cáo H giao nộp tại cơ quan điều tra là 500.000 đồng. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Thị Y, Trần Thị H3, Phạm Thị T1 và Trần Hữu H5 đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo là đồng phạm giản đơn, bị cáo Phạm Văn H là người rủ rê các bị cáo khác, chuẩn bị công cụ và địa điểm để đánh bạc nên giữ vai trò cao hơn, các bị cáo Nguyễn Thị Y, Trần Thị H3, Phạm Thị T1 và Trần Hữu H5 có vai trò ngang nhau trong vụ án. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo H phạm tội khi đủ 70 tuổi, sau khi phạm tội đã đầu thú do đó được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do đó, căn cứ quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Các vật chứng đã thu giữ gồm: 01 bộ bài 52 lá là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy; số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại màu đen của Phạm Văn H, số tiền 3.621.000 đồng và 01 điện thoại Iphone màu hồng của Nguyễn Thị Y, số tiền 3.854.000 đồng của Trần Thị H3, số tiền 1.345.000 đồng của Phạm Thị T1, số tiền 1.150.000 đồng và 01 điện thoại Iphone màu trắng của Trần Hữu H5, số tiền 150.000 đồng tiền hồ của tất cả các bị cáo là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 điện thoại Iphone màu vàng thu giữ của Phạm Thị T1 không phải là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với các bị cáo; điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Văn H; Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Thị H3 và bị cáo Phạm Thị T1:
- Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Thị Y, Trần Thị H3, Phạm Thị T1 và Trần Hữu H5 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 30-5-2024 đến ngày 07-6-2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Y 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 30-5-2024 đến ngày 07-6-2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Xử phạt bị cáo Trần Thị H3 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30-5-2024 đến ngày 28-8-2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trả tự do cho bị cáo Trần Thị H3 tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị T1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30-5-2024 đến ngày 28-8-2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trả tự do cho bị cáo Phạm Thị T1 tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Xử phạt bị cáo Trần Hữu H5 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ ngày 30-5-2024 đến ngày 07-6-2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài 52 lá. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone màu đen của Phạm Văn H, 01 điện thoại Iphone 7 màu hồng của Nguyễn Thị Y, 01 điện thoại Iphone màu trắng của Trần Hữu H5, tổng số tiền 10.620.000 đồng thu giữ của tất cả các bị cáo đã chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Trả lại bị cáo Phạm Thị T1 01 điện thoại Iphone màu vàng (chi tiết vật chứng ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-8-2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định).
- Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Thị Y, Trần Thị H3, Phạm Thị T1 và Trần Hữu H5 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Các bị cáo;
- - TAND tỉnh Nam Định ;
- - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
- - Công an TP. Nam Định;
- - UBND p. Cửa Bắc, p. Bà Triệu,
- xã Lộc Hòa tp. Nam Định;
- - UBND xã Mỹ Phúc, H. Mỹ Lộc;
- - Chi cục THADS TP. Nam Định;
- - Lưu hồ sơ vụ án + VP.
Bản án số 175/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về đánh bạc
- Số bản án: 175/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Hải và đồng phạm - Đánh bạc
