TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 175/2024/DS-PT Ngày: 26/7/2024 “V/v Tranh chấp HĐ tặng cho QSD đất”. | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Chọn |
| Các Thẩm phán: | Bà Hoàng Thị Thu Hường |
| Ông Vũ Thế Mạnh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy - Kiểm sát viên.
Các ngày 19 và 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 261/2023/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 156/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Cụ Lê Thị D, sinh năm 1935 (Đã chết). Địa chỉ: Ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn:
Ông Trần Văn D1, sinh năm 1952
Ông Trần Văn D2, sinh năm 1965
Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1970
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã N, G, Kiên Giang.
Ông Trần Văn M, sinh năm 1954.
Địa chỉ: Khu phố Ngã Ba, trị trấn Kiên Lương, Kiên Lương, Kiên Giang.
Chỗ ở: Ấp Vinh Thuận, xã Ngọc Thuận, Giồng Riềng, Kiên Giang.
Ông Trần Văn K, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện cho ông Trần Văn D1, Trần Văn D2, Trần Văn Đ và Trần Văn K: Ông Trần Văn M, sinh năm 1954. Địa chỉ: Khu phố N, trị trấn K, huyện K, tỉnh kiên Giang. Có mặt
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn M: Luật sư Phạm Văn C, Văn phòng luật sư Phạm Văn C thuộc đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 và bà Trần Thị N, sinh năm 1971. Cùng địa chỉ: Ấp V, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông T, bà N: Luật sư Phạm Hoàng K1, thuộc đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị N1, sinh năm 1958. Vắng mặt
Ông Trần Văn P, sinh năm 1957. Có mặt
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, Kiên Giang.
Bà Trần Thị X, sinh năm 1976. Vắng mặt
Địa chỉ: Ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/2/2011, biên bản hòa giải ngày 01/03/2012 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn cụ Lê Thị D (chết) nay đại diện theo ủy quyền cũng là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ D là ông Trần Văn M trình bày:
Cụ Trần Văn R và Lê Thị D có thửa đất thổ vườn số 116, tờ bản đồ số 7, diện tích 2.041m² và thửa đất ruộng số 126, tờ bản đồ số 6, diện tích 26.246m² đất tọa lạc ấp V, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Trong thửa đất thổ vườn có nền mộ và căn nhà của cụ D trên diện tích 386m².
Khi cụ R còn sống, thì vợ chồng cụ R và cụ D có đồng ý tách quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà N, ông T diện tích 1.800m² trong thửa 126, nhưng khi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất vợ chồng T, bà N đã chuyển quyền toàn bộ 2 thửa đất trên. Trước khi cụ D còn sống vẫn ở và sử dụng diện tích đất 386m² và đất thổ vườn 7.800m² đất ruộng nên cụ yêu cầu bà N, ông T phải tách quyền sử dụng đất lại cho cụ.
Đến năm 2014, cụ Lê Thị D (chết) thì ông Trần Văn M đại diện theo ủy quyền cũng như là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ D tiếp tục khởi kiện.
Đến ngày 10 tháng 5 năm 2018 thì ông M làm đơn khởi kiện bổ sung, trước đây cụ D yêu cầu bà N, ông T tách giấy giao trả phần đất diện tích 386m², nhưng khi đo đạc cụ thể diện tích theo đo đạc thực tế là 572m² nên nay ông yêu cầu bà N, ông T giao trả lại diện tích thực tế là 572m², thuộc thửa 116, tờ bản dồ 07, đất tọa lạc ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang cho ông.
Ngày 15 tháng 4 năm 2015, thì ông M rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Trần Thị N, ông Nguyễn Văn T đối với phần diện tích đất 7.800m², thửa 126, tờ bản đồ 06, đất tọa lạc ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang.
Tại bản tự khai đề ngày 01 tháng 03 năm 2012 và biên bản hòa giải ngày 01/03/2012 và trong quá trình giải quyết bị đơn bà N, ông T trình bày:
Nguyên nguồn gốc đất là của cha, mẹ là cụ Trần Văn R và Lê Thị D khi cha, mẹ còn sống thì có đồng ý tách toàn bộ thửa đất thổ vườn số 116 cho bà N trong đó có phần nền mộ và căn nhà của cha mẹ bà, bà N cho rằng cha mẹ (vợ chồng cụ D) cũng muốn để phần đất này cho bà đứng tên để phụng dưỡng cha, mẹ và chăm sóc mồ mã, thờ cúng sau này.
Đối với thửa đất ruộng số 126 diện tích 26.246m² cụ thể là: Cha mẹ cho bà 04 công, cha mẹ chuyển nhượng lại cho bà 0 công, chuyển nhượng của anh Trần Hoàng D3 02 công, chuyển nhượng của anh Trần Văn K 06 công, chuyển nhượng của em gái út Trần Thị Mỹ X1 04 công, tổng cộng là 20 công tầm 3 mét, tương đương với diện tích toàn bộ thửa 126. Do đó, cha mẹ bà đã đồng ý tách quyền sử dụng đất cho bà và vợ chồng ông, bà canh tác toàn bộ diện tích đất trên từ trước đến nay. Việc tách quyền sử dụng đất hai thửa đất trên các anh em trong gia đình đều biết và đồng ý ký tên trong hồ sơ chuyển quyền. Do đó, bà không đồng ý tách quyền sử dụng đất lại theo đơn yêu cầu khởi kiện cho mẹ bà.
Việc cụ D trình bày hiện bà đang canh tác 7.800m² trong thửa 126 là không đúng mà thực tế khi mẹ bà còn sống canh tác thửa 129 diện tích 6.531m² và thửa 128 diện tích 7.643m² do ông Trần Văn K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên phần đất của ông K nằm giáp ranh liền kề, trước đây nằm ngang nhưng cha bà đã chia dọc các thửa đất nên không còn nguyên hiện trạng theo bản đồ địa chính. Khi tách quyền sử dụng đất cha bà đồng ý tách hết thửa 126 cho bà còn thửa 128 của ông K không tách cho bà mà để lại cho mẹ bà sử dụng và có ý định sau này sẽ tách cho em út M (Xiêm).
Tại bản tự khai ngày 11 tháng 4 năm 2016 ông Nguyễn Văn B trình bày ông là thành viên trong gia đình những thửa đất này là tài sản của cha mẹ nên ông đồng ý cho cha mẹ toàn quyền quyết định ông không có ý kiến.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Lê Thị D:
Ông Trần Văn M và ông Trần Văn Đ, ông D1, ông K, ông D3 thống nhất yêu cầu khởi kiện của cụ D yêu cầu bà N và ông T giao trả lại diện tích thực tế là 572m², thuộc thửa 116, tờ bản dồ 07, đất tọa lạc ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang cho ông M là người đại diện.
Tại bản tự khai ngày 08 tháng 08 năm 2018, ông Trần Văn P, bà Trần Thị N1, bà Trần Thị X trình bày yêu cầu bác toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của cụ D và của ông Trần Văn M và giữ nguyên hiện trạng phần đất của bà N sử dụng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 261/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 157; khoản 6 Điều 165; điểm b,d khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 269; Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự.
Khoản 4 Điều 11 Bộ luật dân sự năm 2015.
Điều 97, 99, 106, 166, 169 và 170 Luật đất đai năm 2013.
Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Tuyên xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cụ Lê Thị D (chết) người đại diện theo ủy quyền, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà D là ông Trần Văn M yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị N giao trả lại diện tích thực tế là 572m², thuộc thửa 116, tờ bản dồ 07, đất tọa lạc ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang cho ông.
Theo trích đo địa chính số: TĐ 123- 2018 (116, 07) ngày 13/9/2018 của Chi nhánh văn phũng đăng ký đất đai huyện G Thửa đất cú vị trớ và số đo các cạnh cụ thể như sau: (có sơ đồ kèm theo)
+ Cạnh 1-2: giáp với Kênh An B1, có số đo 19,20m;
+ Cạnh 3-2: giáp với đất bà Trần Thị N, có số đo 29,80m;
+ Cạnh 3-4: giáp đất bà Trần Thị N, có số đo 19,20m;
+ Cạnh 1-4: giáp đất ông Trần Văn Đ, có số đo 29,80m.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D (chết) người kế thừa quyền và nghĩa vụ là ông Trần Văn M đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị N đối với phần diện tích đất 7.800m², thửa 126, tờ bản đồ 06, đất tọa lạc ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông T, bà N đồng ý mở một lối đi vào nhà mộ ngang 1,5m từ mí lộ nông thôn vào mộ dài 10m để các con bà D đồng kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ D sử dụng chung diện tích nhà mồ.(theo biên bản xem xét thẩm định bổ sung ngày 18/9/2023 có biên bản và sơ đồ kèm theo)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.
Ngày 10 tháng 11 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng kháng nghị, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm số 261/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.
Ngày 13 tháng 11 năm 2023, ông Trần Văn M là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn kháng cáo, đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án số 261/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Lê Thị D.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ý kiến Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích cho đại diện nguyên đơn, ông Trần Văn M và ý kiến ông Trần Văn M: Thống nhất quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát, đề nghị hủy án sơ thẩm do, thủ tục tặng cho QSD đất của vợ chồng cụ D cho vợ chồng bà N không hợp lệ; tờ di chúc không có người làm chứng là không phù hợp; chưa được làm rõ những nội dung mâu thuẫn về thời gian của các chứng cứ về việc cấp giấy quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà N; đưa thiếu người tham gia tố tụng vào vụ án; phần nền mộ và căn nhà đã có từ lâu, khi vợ chồng cụ D còn sống.
- Ý kiến Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho bị đơn và ý kiến bị đơn: Mặc dù thủ tục tặng cho và cấp giấy chứng nhận QSD đất giữa vợ chồng cụ D và bà N chưa khớp về thời gian, nhưng về nội dung đã thể hiện ý chí của vợ chồng cụ D cho bà N toàn bộ diện tích đất 2.041m², vì vợ chồng bà N là con út trong gia đình ở gần gủi, chăm sóc từ khi vợ chồng cụ D ốm đau đến khi qua đời. Về nền mộ chỉ mới làm thời gian gần đây. Mặt khác, tất cả các con cụ D, có ông Trần Văn P, Trần Thị N1 và Trần Thị X không đồng ý theo yêu cầu của ông M, chỉ thống nhất theo yêu cầu của vợ chồng bà N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm, đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
- Xét về quan hệ tranh chấp, cấp sơ thẩm xác định “Tranh chấp QSD đất” là chưa đúng mà phải xác định là tranh chấp “Yêu cầu hủy một phần hợp đồng tặng cho QSD đất”;
- Thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa 116, diện tích 2.041m² cho vợ chồng bà N ông T có nhiều mâu thuẫn như: Hợp đồng tặng cho có sau ngày được cấp giấy, đơn xin cấp giấy có trước ngày hợp đồng tặng cho; mặt khác còn có di chúc thể hiện việc cụ R (chồng bà D) cho đất lập di chúc ngày 20/11/2008, sau ngày cấp giấy chứng nhận QSD đất 01/9/2008. Nhưng cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ;
- Thiếu tư cách tham gia tố tụng, cụ thể:
+ Đối với bị đơn: Con của ông T và bà N là Nguyễn Ngự B2, Nguyễn Phi V với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
+ Đối với nguyên đơn, cụ D và cụ R có tổng cộng 10 người con, trừ bị đơn ra, còn 09 người nhưng cấp sơ thẩm chỉ đưa vào tham gia tố tụng 08 người, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự khai còn 01 người tên Trần Thị T1 (đã chết cách đây trên 10 năm), hiện bà T1 còn chồng và 03 người con đã trưởng thành, đồng thời mộ bà T1 cũng đang nằm trong khu đất tranh chấp nhưng cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ về 03 người con bà T1.
Từ các lý do trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng nghị, hủy bản án sơ thẩm số 261/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, Luật sư, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét xác định thẩm quyền và áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án cơ bản đúng quy định pháp luật dân sự và tố tụng dân sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Viện kiểm sát, đương sự thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị; thủ tục kháng cáo, kháng nghị theo quy định Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, xét về quan hệ tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng cấp sơ thẩm xác định chưa cụ thể; việc thu thập chứng cứ cơ bản đủ nhưng chưa toàn diện. Bởi lẽ:
Xét về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn cụ D yêu cầu bị đơn trả lại một phần diện tích đất ở nông thôn + cây lâu năm trong thửa số 116 trong tổng diện tích 2.041m², do chỉ cho bị đơn một phần diện tích nhưng bị đơn đã làm giấy chứng nhận QSD đất toàn bộ diện tích thửa 116. Vấn đề tặng cho quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn, bị đơn, các con của nguyên đơn và các chứng cứ khác thể hiện có trong hồ sơ vụ án đều xác nhận là có nhưng nguyên đơn cho rằng cho một phần, còn bị đơn cho rằng cho toàn bộ diện tích 2.041m². Do vậy, xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nhưng cấp sơ thẩm xác định tranh chấp QSD đất là chưa cụ thể;
Xét về tư cách tham gia tố tụng trong vụ án, năm 2011 nguyên đơn cụ Lê Thị D khởi kiện và tòa án thụ lý, nguyên đơn cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp là của vợ chồng cụ là Trần Văn R và Lê Thị D, cụ R chết năm 2009, vợ chồng cụ có tổng cộng 10 người con, trừ bị đơn và 01 người đã chết còn 08 người, lẽ ra cấp sơ thẩm cần đưa các con của vợ chồng cụ D tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Quá trình giải quyết vụ án, đến năm 2014 cụ D chết, cấp sơ thẩm cũng đã đưa 08 người con của vợ chồng cụ tham gia tố tụng với tư cách kế thừa quyền, nghĩa vụ của cụ D nhưng còn thiếu 01 người, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự khai tên là T1 đã chết cách nay trên 10 năm. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xác định tất cả 08 người con còn lại của cụ D là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ D là chưa phù hợp.
Bởi lẽ, trong số 08 người này chỉ có ông Trần Văn M, Trần Văn D1, Trần Văn D2, Trần Văn Đ và Trần Văn K đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của cụ D, đồng thời đồng ý cử ông M là người đại diện nên xác định 05 người này với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn; còn ông Trần Văn P, bà Trần Thị N1 và bà Trần Thị X không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện nên xác định 03 người này tham gia vụ kiện với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án mới phù hợp.
Riêng bà T1 là con thứ 5 của vợ chồng cụ D đã chết cách đây trên 10 năm, tuy nhiên thời điểm cho đất và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận giữa vợ chồng cụ D và bà N là lúc vợ chồng cụ còn sống minh mẫn. Vấn đề này có xác nhận của chính quyền địa phương và một số người con ruột của các cụ. Hơn nữa đất tranh chấp thửa tại 116 các cụ chưa đứng tên quyền sử dụng đất, sau khi cụ D chết thì chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ tố tụng là hàng thừa kế thứ nhất của cụ D, do bà T1 chết cách đây trên 10 năm, chồng và 03 người con đi nơi khác làm ăn, phía các đương sự không liên hệ được; mặt khác đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tặng cho QSD đất không phải là vụ án chia thừa kế nên tư cách tham gia tố tụng của những người con bà T1 không làm ảnh hưởng lớn đến nội dung vụ án, sau này các con của bà T1 vẫn có thể yêu cầu khởi kiện bằng vụ án khác về tranh chấp chia di sản thừa kế nếu thấy cần thiết.
Đối với 02 người con của vợ chồng bà N, không cần thiết đưa vào với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lý do: Căn cứ vào nội dung và diện tích đất tranh chấp thực tế nằm ngoài căn nhà gia đình bà N đang ở, nguồn gốc đất do vợ chồng cụ D cho vợ chồng bà N lúc các con bà còn rất nhỏ, tại thời điểm thụ lý vụ án cũng chưa thành niên.
Về vấn đề thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm chưa đầy đủ, toàn diện để làm rõ về thời gian tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng cụ D và vợ chồng bà N như thể hiện tại nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, tuy nhiên sai sót này không làm thay đổi nội dung sự việc. Những chứng cứ thể hiện trong hồ sơ cho thấy cơ bản đủ để xác định việc tặng cho quyền sử dụng đất thửa 116 giữa vợ chồng cụ D và vợ chồng bà N là có thật hay không.
Từ các phân tích trên, đề nghị cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[2] Xét nội dung vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng và thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 116 thể hiện: Nguồn gốc đất của vợ chồng cụ D khai phá trước đây nhưng chưa làm thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, vợ chồng cụ D và vợ chồng bà N đều sinh sống trên thửa đất này từ trước đến nay do có mối quan hệ cha, mẹ và con trong gia đình;
Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất cho vợ chồng bà N: Theo các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ thì năm 2007-2008 vợ chồng bà N đi đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận QSD đất số AM940339 ngày 01/9/2008 theo thủ tục “Nhà nước công nhận QSD đất”. Việc cấp giấy của Ủy ban nhân dân huyện G thì Ủy ban cũng có ý kiến thể hiện tại (BL 153) dựa trên các giấy tờ như: Giấy cho đất, có chính quyền địa phương xác nhận; xác minh các hộ dân nên xác định vợ chồng cụ D có cho phần đất nêu trên cho vợ chồng chị N. Từ đó Ủy ban đã cấp giấy QSD đất thẳng cho vợ chồng bà N mà lẽ ra phải cấp cho vợ chồng cụ D xong, sau đó làm thủ tục chuyển quyền cho vợ chồng bà N theo thủ tục hợp đồng tặng cho;
Mặt khác tại giấy cho đất đề ngày 26/3/2008 (Bút lục 187) thể hiện nội dung, cụ R tặng cho đất 03 người con là ông D2, ông Đ và bà N thửa 116 diện tích 2.041m², 03 người con đều ký vào giấy cho và có xác nhận của ấp và xã. Tại thời điểm này, ông D2, Đ và bà N đều làm thủ tục cấp giấy QSD. Còn giấy di chúc đề ngày 20/11/2008 (Bút lục 182) thể hiện nội dung, vợ chồng cụ D đồng ý cho bà N thửa đất 116 diện tích 2.041m², di chúc này lập sau ngày cấp giấy QSD đất nhưng cũng thể hiện nội dung giống như giấy cho đất nhưng thể hiện ý chí cả vợ chồng cụ D. Điều này cho thấy và khẳng định thêm rằng trong khoảng thời gian từ năm 2007-2008 vợ chồng cụ D có đồng ý cho vợ chồng bà N kê khai đăng ký đứng tên toàn bộ thửa đất 116 là có thật.
Xét về quan hệ thân tộc trong gia đình, vợ chồng cụ D có tổng cộng 10 người con, trong đó có bị đơn và đã chết trước vợ chồng cụ 01 người tên T1, lúc sinh thời vợ chồng cụ đã chia cho các con cụ đa phần ai cũng có phần, đất ruộng, đất ở khi các con cụ lần lượt có gia đình riêng. Riêng bà N lập gia đình sau cùng, trước khi lập gia đình thì ở cùng vợ chồng cụ, sau khi có chồng thì cất nhà ra ở riêng kế bên để tiện chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già, cụ Trần Văn R chết năm 2009, cụ D chết năm 2014 đều chôn cất trong thửa đất 116, vợ chồng bà N cũng làm nhà mộ cho các cụ xong. Cụ D khởi kiện ban đầu là yêu cầu trả lại để ở, làm nền mộ và hiện cụ đã chết, nền mộ cũng đã có; đồng thời heo ý kiến vợ chồng bà N và có 03 anh chị em ruột gồm, N1, X và P đều xác định, vợ chồng cụ D cho chị N toàn bộ thửa đất 116 diện tích 2.041m² đứng tên, ý nguyện sau này vợ chồng cụ chết thì vợ chồng bà N tiếp quản chăm sóc mồ mả các cụ, vợ chồng bà N có gửi lại vợ chồng cụ D 02 cây vàng 24kara để dưỡng già;
Còn phía ông M đại diện cho các 05 anh chị em gồm: D1, D2, Đ và K cho rằng chỉ cho một phần trong thửa 116, phần còn lại diện tích 572m² để xây mồ cho cha mẹ anh chị em và cất nhà thờ cúng sử dụng chung, ông M là người trực tiếp quản lý, chăm sóc. Với ý kiến, yêu cầu này không đồng nhất với yêu cầu khởi kiện của cụ D và các anh chị em còn lại vì cho rằng, lúc lập gia đình cha mẹ đều cho phần riêng, còn ý nguyện cụ D yêu cầu trả lại để ở nhưng hiện nay vợ chồng cụ đều đã chết, phần mộ của các cụ được vợ chồng bà N cũng đã làm nhà mồ hoàn tất trên thửa đất 116, như vậy xem như phần nào đúng ý nguyện của các cụ;
Đối với ý kiến của vợ chồng bà N, ông P, bà N1 và bà X cho thấy, vợ chồng bà N có công chăm sóc, ở cùng cha mẹ lúc chưa lập gia đình và sau này lập gia đình thì ở kế bên các cụ từ lúc sinh thời đến khi chết, làm nhà mồ cho các cụ và thờ cúng theo phong tục, tập quán địa phương, như vậy vợ chồng bà N cũng đã làm tròn nghĩa vụ của người con, ngoài ra không có chứng cứ nào khác chứng minh vợ chồng bà N ngược đãi đối với cha mẹ cho nên vợ chồng bà N tiếp quản, sử dụng toàn bộ thửa đất 116 là phù hợp.
Đối với thửa đất 126 diện tích nguyên đơn yêu cầu trả diện tích 7.800m², quá trình giải quyết vụ án đương sự đã rút yêu cầu, cấp sơ thẩm đã đình chỉ là phù hợp.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, trong thảo luận nghị án, căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, chấp nhận ý kiến Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn vợ chồng bà N ông T; không chấp nhận ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông M và không chấp nhận kháng cáo của ông M. Sửa một phần bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí, chi phí tố tụng:
Căn cứ Điều 12, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng: Giữ nguyên theo bản án sơ thẩm
- Án phí phúc thẩm: Ông M phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận. Do ông M có đơn xin miễn án vì thuộc trường hợp người cao tuổi, Hội đồng xét xử thống nhất miễn án phí phúc thẩm cho ông M.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn M, là đại diện người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 261/2023/HNGĐ-ST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, Kiên Giang.
Áp dụng các Điều 429, 459, 500 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 98, 99, 100, 166 và 170 Luật đất đai năm 2013; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyễn đơn là ông Trần Văn M, ông Trần Văn D2, Trần Văn Đ, Trần Văn D1 và Trần Văn K yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị N giao trả lại diện tích thực tế là 572m², thuộc thửa 116, tờ bản dồ 07, đất tọa lạc ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang.
Theo trích đo địa chính số: TĐ 123- 2018 (116, 07) ngày 13/9/2018 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G, thửa đất có vị trí và số đo các cạnh cụ thể như sau (có sơ đồ kèm theo):
+ Cạnh 1-2: giáp với Kênh An B1, có số đo 19,20m;
+ Cạnh 3-2: giáp với đất bà Trần Thị N, có số đo 29,80m;
+ Cạnh 3-4: giáp đất bà Trần Thị N, có số đo 19,20m;
+ Cạnh 1-4: giáp đất ông Trần Văn Đ, có số đo 29,80m.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Lê Thị D (chết) đại diện người kế thừa quyền và nghĩa vụ là ông Trần Văn M đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị N đối với phần diện tích đất 7.800m², thửa 126, tờ bản đồ 06, đất tọa lạc ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang.
Ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông T, bà N đồng ý mở một lối đi vào nhà mộ của vợ chồng cụ Lê Thị D, có diện tích 15m² thuộc thửa 116, tờ bản dồ 07, đất tọa lạc ấp V, xã N, huyện G, Kiên Giang để gia đình các con của cụ Lê Thị D và Trần Văn R đi vào sử dụng chung diện tích nhà mồ (Theo biên bản xem xét thẩm định bổ sung ngày 18/9/2023 có biên bản và sơ đồ kèm theo), thể hiện cụ thể:
Chiều ngang: Cạnh 10-11 giáp lộ nông thôn = 1,5m; cạnh 12-12 giáp nền mộ = 1,5m. Chiều dài: Cạnh 10 – 12 = 10m; cạnh 11-13 = 10m.
Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc sử dụng lối đi chung vào khu mộ của vợ chồng cụ Lê Thị D và Trần Văn R theo quy định pháp luật về đất đai.
Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng:
- Về án phí:
Bà Lê Thị D (chết) ông M là người kế thừa không phải chịu án phí. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí ông M, bà Lê Thị D (Cao Thanh T2 nộp thay) đã nộp là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 04193 ngày 02 tháng 08 năm 2011 và 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002575 ngày 10 tháng 05 năm 2018 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Do người cao tuổi theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng:
* Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Bà Lê Thị D (ông M người kế thừa) phải chịu số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 502.000 đồng (năm trăm lẽ hai nghìn đồng) và 706.000 đồng (bảy trăm lẽ sáu nghìn đồng), bà D đã nộp xong.
* Về chi phí định giá: các bên tự thỏa thuận phần tài sản tranh chấp không yêu cầu định giá đất và tài sản tranh chấp.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn M được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn |
Bản án số 175/2024/DS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hđ tặng cho qsd đất
- Số bản án: 175/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ tặng cho QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: D VÀ N
