Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 175/2024/HS-ST

Ngày: 24 – 7 – 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Anh Minh;
  2. Bà Lê Thị Thiện

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 188/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Thiều Văn T, sinh năm 1975, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: F, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; tạm trú: 35A/A9, đường X, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thiều Văn H và bà Nguyễn Thị H1; vợ: Nguyễn Thị Đ và có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 cho đến nay, có mặt.
  2. Nguyễn Văn P, sinh năm 1979, tại: Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị C; vợ: Nguyễn Thị L và có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Huỳnh Hữu Ả, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, vắng mặt.
  2. Phan Thị Hoàng Y, sinh năm 1993; nơi cư trú: 480, tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, trong lúc Thiều Văn TNguyễn Văn P đang nhặt phế liệu tại khu vực phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì T rủ P góp mỗi người 100.000 đồng để mua ma tuý sử dụng thì P đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 60B1-735.28 chở P đến khu vực đường L, khu phố A, phường A,thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m60, nói giọng miền nam, TP mua của người đàn ông này 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma tuý (loại ma tuý đá) với số tiền 200.000 đồng, T cất gói ma tuý trên vào túi quần bên trái phía trước của T đang mặc. Mua ma tuý xong, TP tiếp tục đi nhặt phế liệu cho đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, trong lúc T đang điều khiển xe mô tô biển số 60B1-735.28 chở P lưu thông trên đường T thuộc khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị tổ tuần tra của Phòng C1 Công an tỉnh B dừng phương tiện kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, T lấy ra từ túi quần bên trái phía trước 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ tuần tra và khai nhận đây là ma tuý. Tổ tuần tra tiến hành lập biên bản làm việc và thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M);
  • 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, hiệu: Sufat, số máy: 502494, số khung: 502494, biển số: 60B1-735.28.

Kết quả kiểm tra nhanh ngày 06/01/2024 tại Công phường A xác định Thiều Văn T, Nguyễn Văn P dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine.

Ngày 06/01/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ban ra Quyết định trưng cầu giám định số 111, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định loại chất ma tuý, khối lượng/trọng lượng chất ma tuý đối với chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M).

Tại Kết luận giám định số 360 ngày 13/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: 0,1845gam”.

Tại bản Cáo trạng số 175/CT-VKS-TA ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố các bị cáo Thiều Văn T, Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại các Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Thiều Văn T, Nguyễn Văn P về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và áp dụng Đ1 c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Thiều Văn T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm tù 06 tháng tù và xử phạt Nguyễn Văn P từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm tù 06 tháng tù.

Các bị cáo Thiều Văn T, Nguyễn Văn P trình bày ý kiến: Thống nhất với tội danh và điều luật như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Thiều Văn T, Nguyễn Văn P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Thiều Văn TNguyễn Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1845gam ma tuý, loại Methamphetamin nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Hành vi của các bị cáo Thiều Văn T, Nguyễn Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc tình tiết định khung hình phạt là “...Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” và tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo Thiều Văn T, Nguyễn Văn P về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật Hình sự và sẽ bị xử lý nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T có gia đình có công với cách mạng; bị cáo P không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế; các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn nên được xem xét áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về đồng phạm: Các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội;

[5] Xét các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Xét các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Thiều Văn T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm tù 06 tháng tù và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm tù 06 tháng tù là phù hợp với tính chất hành vi của các bị cáo nên được chấp nhận.

[7] Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma tuý cho TP. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau

[8] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 bì thư đã được niêm phong ghi số 360/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B là mẫu vật hoàn lại sau giám định nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, hiệu: Sufat, số khung: RPJWCG1PJ5A502494, số máy: VPJL1P50FMG502494 quá trình điều tra xác định do ông Huỳnh Hữu Ả đứng tên giấy đăng ký xe, xe có biển số 95F3-8793. Qua làm việc ông khai đã bán xe mô tô trên cho một người không rõ nhân thân lai lịch vào năm 2015 nhưng không làm thủ tục sang tên. Bị cáo Thiều Văn T khai mua xe mô tô trên của một người không rõ nhân thân, lai lịch vào năm 2022, khi mua không làm thủ tục sang tên và không có giấy đăng ký xe do xe chưa xác định rõ chủ sở hữu nên cần giao xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định.
  • 01 biển số 60B1-735.28 do bị cáo Thiều Văn T khai nhặt được tại lề đường M - T trong quá trình đi nhặt phế liệu. Quá trình điều tra xác định, biển số 60B1-735.28 là của xe mô tô nhãn hiệu BOSYMAX, số máy: 003855, số khung: 03855 do bà Phan Thị Hoàng Y đứng tên giấy đăng ký xe. Hiện nay bà Y vẫn đang sử dụng xe mô tô mang biển số trên, xe không bị mất hay bán cho ai. Do đó cần tịch thu tiêu huỷ biển số trên.

[9] Về án phí: Các bị cáo Thiều Văn T, Nguyễn Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • + Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • + Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
  • + Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Thiều Văn T, Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • + Xử phạt bị cáo Thiều Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/01/2024.
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) biển số 60B1-735.28 do Thiều Văn T nhặt được tại lề đường M - T trong quá trình đi nhặt phế liệu.
  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư đã được niêm phong ghi số 360/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
  • - Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T 01 xe mô tô hai bánh; số khung: RPJWCG1PJ5A502494, số máy: VPJL1P50FMG502494 để tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí: Các bị cáo Thiều Văn T, Nguyễn Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình H2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 175/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger