Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2024/HS-PT

Ngày: 23 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng.

Bà Kiều Kim Xuân.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và 23 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2024/TLPT-HS ngày 10/6/2024 đối với bị cáo Trần Thanh X, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo kháng cáo:

Trần Thanh X, sinh năm 1984 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi cư trú: Số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn L, sinh năm 1952 và con bà Đặng Thị N, sinh năm 1951; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Tạm giữ: Từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023 được trả tự do. Tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại Phan Thị Thúy N1, Huỳnh Thị Yến N2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mai Đức T không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Thanh X là nhân viên hợp đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn B, được Công ty phân công làm Đội phó Đội bảo vệ trực tại Bệnh viện Đ thuộc khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Quá trình thực hiện nhiệm vụ tại đây, X đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của các bệnh nhân đến điều trị tại Bệnh viện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản các vụ như sau:

- Vụ thứ 1: Vào khoảng 04 giờ, ngày 29/10/2023, X đến Khoa liên chuyên khoa thuộc khu E, lầu 5, Bệnh viện Đ để trực bảo vệ như thường ngày. Khi đi tuần tra đến buồng B thì X phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 128GB Deep Purple, có gắn ốp lưng bằng nhựa trong suốt của chị Phan Thị Thúy N1 để trên đầu giường bệnh. Quan sát thấy chị N1 đã ngủ say, X đi đến lấy trộm điện thoại, bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng đi ra khỏi phòng bệnh và lấy điện thoại ra tắt nguồn, tháo lấy sim cùng với ốp lưng điện thoại ném vào sọt rác ở lầu 5 rồi trở về phòng trực của Bệnh viện tiếp tục làm việc. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, chị N1 phát hiện mất điện thoại nên gia đình chị đến Công an P, thành phố S trình báo sự việc. Khoảng 08 giờ cùng ngày, X mang điện thoại đến tiệm Đ1 thuộc ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp bán cho ông Mai Đức T với giá 2.800.000 đồng, số tiền có được tiêu xài hết.

- Vụ thứ 2: Khoảng 04 giờ 10 phút, ngày 31/10/2023, X đi tuần tra đến ngang buồng E phòng hồi sức, thuộc Khoa sản Bệnh viện Đ thì phát hiện 01 điện thoại di động hiệu S A03S, màu đen, có gắn ốp lưng màu xanh lá cây của chị Huỳnh Thị Yến N2 đang cắm sạc pin để ở cuối giường bệnh của chị N2. Thấy mọi người đã ngủ say, X đi vào lấy trộm điện thoại rồi nhanh chóng đi ra khỏi phòng, X tắt nguồn điện thoại, tháo lấy 02 sim cùng với ốp lưng điện thoại ném vào sọt rác ở gần đó, cất giấu điện thoại vào túi quần rồi trở về phòng trực của Bệnh viện tiếp tục làm việc. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, chị N2 phát hiện mất điện thoại nhưng không trình báo. Đến ngày 15/11/2023, chị N2 biết được Cơ quan Công an bắt được đối tượng lấy trộm nhiều điện thoại trong Bệnh viện nên đến Công an P, thành phố S trình báo sự việc.

Ngoài ra, khi điều tra Trần Thanh X thừa nhận từ khoảng tháng 9/2023 đến ngày 28/10/2023, X đã lấy trộm 07 điện thoại di động các loại của các bệnh nhân khác đến điều trị tại Bệnh viện Đ (trong đó đã thu hồi được 02 điện thoại). Tuy nhiên, X không nhớ rõ cụ thể ngày, tháng lấy trộm, tài sản của ai? loại điện thoại

gì? và ở buồng bệnh nào? hiện chưa xác định được bị hại. Tất cả điện thoại lấy trộm được, X đều mang đến bán cho ông T với giá mỗi điện thoại từ 500.000 đồng đến 800.000 đồng, tiêu xài hết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 14 Pro max, Deep Purple, 128GB, số IMEI/MEID 358165606836293, không có ốp lưng và sim, đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S, màu đen, số IMEI (khe 1): 354551891991444, số IMEI (khe 2): 357732541991441, không có ốp lưng và sim, đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C20, màu xám, kiểu máy RMX3063, số sê ri DELV8DWOQOWK6S6L, không có ốp lưng và sim, đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh, số sê ri R9JN50KRV5J gắn ốp lưng bằng nhựa trong suốt, không có sim, đã qua sử dụng.

- 01 mũ bảo hiểm màu xanh, mái che màu đen, phía sau có ghi chữ XE MÁY TÂN TIẾN màu đỏ, hai bên mũ có ghi 02 chữ TT màu đỏ và 02 vần cong màu xanh, đã qua sử dụng của Trần Thanh X.

- 02 đoạn clip được trích xuất từ camera của tiệm Đ1 có liên quan đến vụ án được lưu giữ trong 01 USB.

Đối với 05 điện thoại di động còn lại X đã lấy trộm của các bệnh nhân khác, sau khi bán cho ông Mai Đức T, ông T đã bán cho người khác (không rõ họ tên, địa chỉ); 01 ốp lưng của điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max, 128GB, D, bằng nhựa trong suốt trên đầu có 02 tai thỏ, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, 01 phôi sim điện thoại mạng Mobifone (số thuê bao 0705.364571) của Phan Thị Thúy N1; 01 ốp lưng màu xanh của điện thoại di động hiệu S A03S, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, 01 phôi sim nhà mạng Vinafone (số thuê bao 0879.007743), 01 phôi sim nhà mạng Mobifone (số thuê bao 0909.160417) của Huỳnh Thị Yến N2, sau khi lấy trộm X đã ném bỏ, nên không thu hồi được.

Theo các Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 02/11/2023, số 51/KL-HĐĐGTS ngày 23/11/2023, số 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận:

1. Điện thoại của Phan Thị Thúy N1:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 14 Pro max, 128GB, Deep Purple, màu tím, đã qua sử dụng, đã thu hồi được. Thời điểm định giá ngày 29/10/2023 là 19.667.000 đồng.

- 01 ốp lưng của điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max, 128GB, D, bằng nhựa trong suốt trên đầu có 02 tai thỏ, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, chưa thu hồi được. Thời điểm định giá ngày 29/10/2023, do tài sản không rõ nhãn hiệu, không thu hồi được, Hội đồng định giá không có căn cứ định giá.

- 01 phôi sim điện thoại mạng M (số thuê bao 0705.364571). Thời điểm định giá ngày 29/10/2023 là 25.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá là 19.692.000 đồng.

2. Điện thoại của Huỳnh Thị Yến N2:

- 01 điện thoại di động hiệu S A03S, màu đen, IMEI (khe 1): 354551891991444, IMEI (khe 2): 357732541991441, hiện tài sản đã thu hồi được. Thời điểm định giá ngày 31/10/2023 là 1.750.000 đồng.

- 01 ốp lưng màu xanh của điện thoại di động hiệu S A03S, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, chưa thu hồi được. Thời điểm định giá ngày 31/10/2023, do tài sản không rõ nhãn hiệu, không thu hồi được, Hội đồng định giá không có căn cứ định giá.

- 01 phôi sim nhà mạng M (số thuê bao 0909.160417). Thời điểm định giá ngày 31/10/2023 là 25.000 đồng.

- 01 phôi sim nhà mạng V (số thuê bao 0879.007743). Thời điểm định giá ngày 31/10/2023 là 25.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá là 1.800.000 đồng.

3. 02 (Hai) điện thoại chưa xác định được bị hại:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C20, kiểu máy RMX3063, số sê ri DELV8DWOQOWK6S6L, màu xám, đã qua sử dụng. Hiện tài sản đã thu hồi được, chưa xác định được bị hại. Thời điểm định giá ngày 27/10/2023 là 900.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, số sê ri R9JN50KRV5J, màu xanh, đã qua sử dụng. Hiện tài sản đã thu hồi được, chưa xác định được bị hại. Thời điểm định giá ngày 27/10/2023 là 1.300.000 đồng.

- 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt của điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, hiệu “ opop”, đã qua sử dụng. Hiện tài sản đã thu hồi được, chưa xác

định được bị hại. Thời điểm định giá ngày 27/10/2023 là 11.667 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá là 2.211.667 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt định giá là 23.703.667 đồng.

Tại Kết luận giám định số 1250/KL-KTHS ngày 17/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

- Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trên 02 tệp tin video trong mẫu cần giám định.

- Đã trích xuất hình ảnh người có liên quan đến vụ việc trong 02 tệp tin video ra bản ảnh (có bản ảnh kèm theo).

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 14 Pro max, Deep Purple, 128GB, số IMEI/MEID 358165606836293 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S, màu đen, số IMEI (khe 1): 354551891991444, số IMEI (khe 2): 357732541991441, tất cả không có ốp lưng và sim, đã qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã hoàn trả cho Phan Thị Thúy N1Huỳnh Thị Yến N2 nhận lại xong.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C20, kiểu máy RMX3063, số sê ri DELV8DWOQOWK6S6L, không có ốp lưng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, số sê ri R9JN50KRV5J có gắn ốp lưng bằng nhựa trong suốt, tất cả đều không có sim, đã qua sử dụng hiện chưa xác định được bị hại, cần tiếp tục thông báo truy tìm bị hại để giải quyết theo quy định.

- Đối với 01 mũ bảo hiểm màu xanh, mái che màu đen, phía sau có ghi chữ XE MÁY TÂN TIẾN màu đỏ, hai bên mũ có ghi 02 chữ TT màu đỏ và 02 vần cong màu xanh, đã qua sử dụng là tài sản của Trần Thanh X, cần hoàn trả lại cho X.

- Đối với 02 đoạn clip được trích xuất từ camera của tiệm Đ1 có liên quan đến vụ án được lưu giữ trong 01 USB là vật chứng của vụ án, cần tiếp tục bảo quản lưu hồ sơ làm chứng cứ giải quyết vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Phan Thị Thúy N1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì. Đối với 01 ốp lưng của điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max, 128GB, D, bằng nhựa trong suốt trên đầu có 02 tai thỏ, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 01 sim số 0705364571 không thu hồi được, Phan Thị Thúy N1 không yêu cầu Trần Thanh X bồi thường, nên không xem xét giải quyết.

- Bị hại Huỳnh Thị Yến N2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì. Đối với 01 ốp lưng màu xanh của điện thoại di động hiệu S A03S, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 02 sim số 0909.160417, 0879.007743 không thu hồi được, Huỳnh Thị Yến N2 không yêu cầu Trần Thanh X bồi thường, nên không xem xét giải quyết.

- Đối với ông Mai Đức T có mua 08 điện thoại di động do Trần Thanh X bán với giá từ 500.000 đồng đến 2.800.000 đồng, trong đó 03 điện thoại đã thu hồi được ông T mua với giá tổng cộng là 4.100.000 đồng (điện thoại Iphone 14 Promax mua giá 2.800.000 đồng, điện thoại S A11 mua giá 800.000 đồng, điện thoại Realme C20 mua giá 500.000 đồng). Hiện tài sản đã được thu hồi, trong đó đã hoàn trả cho bị hại 02 điện thoại, ông T không yêu cầu Trần Thanh X trả lại số tiền 4.100.000 đồng, nên không xem xét giải quyết.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 02/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh X mức án 09 tháng tù (chín tháng tù).

Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và nêu quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đến ngày 06/5/2024, bị cáo Trần Thanh X kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Thanh X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo, lý do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, ba mẹ bị cáo lớn tuổi và có bệnh cần bị cáo chăm sóc.

Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm, phân tích các tình tiết và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá kết quả xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và khẳng định

việc Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo Trần Thanh X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan, sai. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Nay bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, bị cáo trình bày gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, ba mẹ bị cáo lớn tuổi và đang bị bệnh. Tuy nhiên, Kiểm sát viên nhận định hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo X là phù hợp với pháp luật, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo, đề nghị giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo X.

Tại phần tranh luận, bị cáo Trần Thanh X không tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo phát biểu do thiếu suy nghĩ nên vi phạm pháp luật, bị cáo biết có lỗi, thật sự ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Bị cáo Trần Thanh X là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, nhưng vào khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến ngày 31/10/2023, tại Bệnh viện Đ thuộc khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Trần Thanh X (là Đội phó Đội bảo vệ của Bệnh viện) đã có hành vi lén lút lấy 09 điện thoại di động các loại của các bệnh nhân đến điều trị tại Bệnh viện, trong đó chưa tìm được bị hại và chưa thu hồi được tài sản 05 vụ, đã phát hiện và thu hồi được 04 điện thoại có tổng trị giá là 23.703.667 đồng của chị Phan Thị Thúy N1, Huỳnh Thị Yến N2 và 02 bị hại khác chưa xác định được họ tên, địa chỉ. Tất cả điện thoại lén lút lấy được, bị cáo X đều đem bán cho ông Mai Đức Ttiệm Đ1 để lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo X đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ.

Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Thanh X bị Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 02/5/2024 và kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo còn được giảm nhẹ

theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo có cha ruột là ông Trần Văn L, anh ruột là ông Trần Thanh N3 và chị ruột là bà Trần Thị Lệ T1 được địa phương và cơ quan ban ngành tặng thưởng nhiều giấy khen về thành tích trong công tác; đồng thời, bị hại Phan Thị Thúy N1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hình phạt 09 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Nay, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo phải chăm sóc cha mẹ lớn tuổi, bệnh tật vì bị cáo là lao động chính, duy nhất nuôi cha, mẹ. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy lý do kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Thanh X.

[3] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[4] Đối với hành vi của ông Mai Đức T đã nhiều lần mua 08 điện thoại mà bị cáo trộm cắp, ông T có lời khai cho rằng khi mua đã nghi ngờ là điện thoại trộm nhưng thấy giá rẻ nên mua (bút lục 361), bị cáo có lời khai là khi bán đều có nói cho ông T biết các điện thoại này có được từ hành vi trộm cắp. Do đó, hành vi của ông T có dấu hiệu của tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, để ổn định bản án sơ thẩm và không bỏ lọt tội phạm, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không cần thiết huỷ bản án sơ thẩm về nội dung này mà tiếp tục kiến nghị Viện kiểm sát, Công an thành phố S tiếp tục điều tra làm rõ dấu hiệu phạm tội của ông Mai Đức T.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Trần Thanh X không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Thanh X.

Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp về

phần hình phạt đối với bị cáo Trần Thanh X.

2. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh X 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thanh X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Kiến nghị Viện kiểm sát, Công an thành phố S tiếp tục điều tra làm rõ hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của ông Mai Đức T.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC- Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TA-VKS-THADS TP, Sa Đéc;
  • - CQCSĐT Công an TP. Sa Đéc;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA.TA Tỉnh;
  • - Lưu: VT, HSVA (Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 175/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh X
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger